Dịch một trò chuyện: Vincent Moon 

Hôm ni mình muốn đổi gió một chút, chia sẻ về những thứ mình đọc và nghe qua việc dịch. Tại vì ngại ngữ thì rất nhiều người giỏi, nên việc dịch đối với mình cũng như là một lần đọc và tham gia vào nó, đem nó đi nói về nó với người khác thôi.

Trong lúc lượn lờ thì được thảy cho bài phỏng vấn này. Bài rất là dài và mình chỉ dịch gần hết. Bài gốc ở đây: 

http://www.andofotherthings.com/2014/03/11/conversation-filmmaker-vincent-moon-hung-tran-onion-cellar/

Đáng ra mình định highlight nhiều nữa trước khi bắt đầu nhưng mà thôi, hôm nay hãy cứ nhâm nhi đã.

***

Với một chút rượu gạo (1), ngắm tàu đêm đi qua thành phố, Hung Tran (2) cùng nói chuyện với Vincent Moon. Ông này là một nhà làm phim độc lập. Hai người nói chuyện về những điều kì diệu, kì lạ. Về phim (đương nhiên), và về âm nhạc. Về tự do, về sức mạnh của internet trong việc bạn có thể làm điều gì bạn muốn với cuộc đời mình.

Thế giờ chúng ta nói chuyện gì?

: Thì, điều gì đã khiến anh đi vào thế giới của thứ âm nhạc truyền thống hơn, mang tính trải nghiệm hơn và rời xa khỏi việc làm những video nhạc rock và indie?

Tôi chẳng biết nữa. Cũng không phải một ngày đẹp trời tôi thức dậy và “giờ mình xong cái này rồi, mình sẽ bắt đầu với nhạc truyền thống”. Tôi chỉ xuôi theo dòng đời xô đẩy thôi.

Năm năm trước, tôi bước vào cảnh không nhà, và khi du lịch đến các nước tôi càng ngày càng hứng thú hơn với việc tìm hiểu văn hóa, không phải kiểu văn hóa được thông dịch của nhạc pop hay rock, mà mang đậm chất truyền thống thuộc về tập quán của họ. Đó là một quá trình dài. Nhưng lúc đó tôi không thực sự nghĩ về nó như thế, tôi cứ đi và lúc đó là sự tò mò về nơi mình đến.

Điều anh phải hiểu có thể là, chừng nào anh không dính líu đến tiền trong những dự án như thế này, chừng nào không có nhà sản xuất nào cả và về cơ bản là mình anh – thì anh có thể thực sự làm bất cứ điều gì mình muốn, và xuôi theo dòng chảy, tùy cơ ngẫu hứng.

: Giống như cuối cùng cũng tự do được làm tất cả những điều anh muốn làm?

Đúng đúng đúng. Nhưng thực sự ngay từ đầu tôi đã có tự do làm những điều tôi muốn khi không có tiền tham dự vào rồi. Tôi từng có đủ trải nghiệm cả tốt lẫn xấu khi làm việc với tiền trong một vài dự án, nhưng phần lớn là xấu. Nên tôi như là, “ồ được rồi mình có thể cứ đi và sống như thế này, không cần được trả tiền” – và tôi nghĩ là tôi làm được. Tôi nghĩ có thể tự mình tìm được cái sự cân bằng nhỏ bé đó, thế rồi tôi có thể tự do và làm những bộ phim như mình muốn. Và đó là cách tôi vẫn làm, cho đến hiện giờ.

Tôi không thực sự muốn thay đổi điều đó. Tôi muốn tiếp tục theo đuổi khám phá này, khám phá xem anh có thể đi bao xa mà không cần tiền đi theo. Tính đến nay tôi đã làm được khoảng 700 phim gì đó. Tôi có thể chứng minh rằng điều đó khả thi, và nếu mọi người hiểu điều đó và cố gắng rồi làm được thì sẽ rất tuyệt.

: Anh đã chi trả cho các chuyến đi như thế nào?

Dựa vào workshop, chiếu phim, quyên góp. Và nhờ vả nữa. Chỉ với sự giúp đỡ từ mọi người, giống như là “đến chỗ tôi đi rồi anh muốn ở bao lâu thì ở”, hoặc “tôi thực sự thích những bộ phim của anh, hãy để tôi mời anh uống nhé”. Tôi vẫn thấy thật bí ẩn và ngạc nhiên là sao mình có thể sống với ít ỏi như thế. Nhưng cùng lúc thì trong những chuyến đi dài tôi vẫn thường được trả tiền từ các dự án lớn. Tôi được mời đến liên hoan phim, liên hoan âm nhạc – họ trả tiền cho tôi đến và như kiểu:

“Rồi vậy anh sẽ ở lại 3 ngày phải không?”

“Không, tôi sẽ ở 3 tháng – nhưng đừng lo, chỉ cần đưa vé cho tôi thôi, phần còn lại để tôi.”

pexels-photo-220197

: Anh sẽ tiếp tục cách sống như vậy chứ?

Cho đến hiện tại thì nó vẫn rất tốt, và có tác dụng. Nhưng tôi vẫn nghĩ mình sẽ thay đổi lối sống một chút trong năm sau vì tôi muốn có gia đình và vì những thứ khác.

Tôi sẽ không làm nhiều phim nữa, không đi du lịch bạt mạng nữa. Tôi sẽ làm việc trong những dự án dài hơi hơn. Dành nhiều thời gian ở một nơi với gia đình hơn, và cố gắng đàu sâu hơn, làm việc nhiều hơn với các tổ chức, bảo tàng, phòng trưng bày hoặc gì đó. Nhiều người trong ngành thực sự được rót vốn rất nhiều, nhưng tôi không bao giờ thử làm như thế – tôi không thuộc về ngành công nghiệp phim một chút nào. Tôi không làm việc cho ngành công nghiệp nào cả. Tôi không muốn làm việc cho ngành công nghiệp nào cả. Tôi nghĩ đó là một cách tiếp cận cuộc sống rất chính trị và tôi chỉ muốn tiếp tục làm mọi thứ theo cách này – cách của riêng tôi – tôi không muốn giàu hay nổi tiếng gì hết.

:Anh đã diễn cho Les Siestes Electroniques ở Paris vào tháng 7, đó là lần đầu tiên anh làm thứ gì tương tự như thế phải không – một chương trình âm nhạc?

Ừ, và tôi thực sự hạnh phúc với những gì mình đã làm. Samuel có ý tưởng đó vì anh ấy đã theo dõi các tác phẩm của tôi, đặc biệt là những bản thu tôi làm ở khắp nơi trên thế giới. Đó là một thử thách thú vị. Tôi đã dành một tuần ở bảo tàng (de quai Branly), đào sâu các thứ và sắp xếp định hướng mọi thứ xung quanh chủ đề “phúc phần” (3), và những âm thanh tôi giới thiệu lấy cảm hứng từ những phúc phần khắp nơi trên thế giới.

Tôi ước mình có thể làm việc với âm thanh nhiều hơn, đúng vậy, chỉ âm thanh thôi. Kiểu như, âm nhạc là gì? Giới hạn của âm nhạc là gì? Âm thanh là gì? Thật tuyệt vời. Mọi thứ ấy. Nếu anh rộng mở đôi tai của mình. Mọi âm thanh đều thực sự là một niềm vui. Anh phải làm việc với đôi tai của anh.

(Có tiếng một đoàn tàu chạy qua – Vincent bảo “không còn gì tuyệt vời hơn” – rồi gần như im lặng.)

Tôi đã thực sự ngạc nhiên, ít nhất là về cái sự thật rằng thế giới mà chúng ta đang sống, có phải đến gấp 10 lần khả năng so với 10 năm trước, nếu xét về mặt công nghệ. Cùng lúc đó thì những rủi ro cũng ít đi. Tôi nhìn những người bạn xung quanh mình, tất cả họ đều thực sự sợ giải quyết mọi thứ, thay đổi mọi thứ, nhưng đó chính là thời khắc thích hợp nhất để trải nghiệm, anh biết đấy, anh thực sự có thể trải nghiệm rất nhiều với những công cụ đó (Vimeo và Bandcamp trên nền tảng internet).

Dù vậy chúng chỉ là công cụ thôi, nghĩa là chúng chưa bao giờ là một điểm dừng cả. Tôi đã phát hành nhiều thứ trên mạng trong hơn 10 năm rồi, không chỉ phim mà cả ảnh nữa, lúc nào cũng miễn phí. Nhưng tôi luôn thấy Internet là một cách tuyệt diệu để đơn thuần kết nối với người khác, để tổ chức tiềm năng con người – và đó là chức năng của nó. Nên tôi sử dụng nó rất cẩn thận, tôi không đăng nhiều thứ lên Facebook, tôi chỉ đăng khi đi đến đâu đó và muốn kết nối gặp gỡ với mọi người.

pexels-photo-50908

: Tôi nghĩ đó là một công cụ khá tốt để biết được những người mà anh sẽ chẳng bao giờ gặp nếu trong đời thực.

Nhưng cũng có lúc anh thực sự phải gặp họ đúng không? Và đó là phần tuyệt vời của câu chuyện. Khi anh thực sự gặp những người đó.

Ví dụ có lần tôi đến Armenia với 1-2 liên hệ gì đấy. Ban đầu thực sự rất khó để tìm được ai đó, nhưng rồi cuối cùng chỉ một ngày trước khi đi tôi gửi đại một tin nhắn lên Facebook và có được liên hệ từ 2-3 người ở đó. Thế rồi, chuyến đi của tôi, chỉ dài bảy tám ngày, nhưng đã thực sự trở nên rất tuyệt vời. Thông qua những liên hệ ban đầu đó tôi đã gặp được cả tấn người, làm được những bản thu không thể tin nổi trong một khoảng thời gian ngắn. Thật điên rồ. Tôi đã làm một phim lớn về âm nhạc ở đó. Những thứ thật sự rất tuyệt.

: Anh còn sử dụng các công cụ trên Internet như thế nào nữa?

Điều thú vị nhất về các công cụ đó là ngày nay, kết nối Internet ở bất cứ nước nào cũng đủ tốt để cho anh ít nhất là nghe nhạc. Bây giờ nhiều người sử dụng Internet như một phiên bản TV – TV 2.0 tốt hơn, nhưng rất sai lầm. Cái cốt lõi của Internet chính là sự đối lập với công nghệ truyền hình. Truyền hình là từ một trung tâm, thông tin được lan tỏa mà không thực sự nhận được phản hồi, còn trên Internet hoàn toàn trái ngược, không có ai là trung tâm duy nhất cả, tất cả mọi người đều là trung tâm, và tất cả đều có thể tương tác với người khác như vậy.

Nên đó là một công cụ phi chính chủ rất mạnh, một công cụ mạnh để thay đổi xã hội, và nó đã thay đổi rất nhiều phần trong xã hội nhưng nó còn có thể làm hơn thế, hơn thế rất nhiều, khi nói về việc mọi người sống cùng nhau, với tần suất cơ bản là hàng ngày.

: Vậy Internet là một thế lực của sự thay đổi?

Nó là một phần khổng lồ của sự thay đổi có thể được thực hiện trong xã hội của chúng ta, nhưng không may là tôi nghĩ xã hội sẽ không thay đổi nhiều như thế, bởi vì có quá nhiều người liên quan, quá nhiều người đang kiểm soát và những điều tương tự, và chúng ta sẽ không bao giờ được sống trong một thế giới yên bình. Nhưng, dù sao thì, chúng ta vẫn đang chiến đấu, với nụ cười trên môi.

: Anh nghĩ gì về sức mạnh của nghệ thuật – âm nhạc và phim ảnh và văn học nữa – những thứ đang truyền cảm hứng cho mọi người đi ngược lại cái thông thường, đi ngược lại những sức mạnh kiểu như vậy?

Tôi nghĩ đã luôn là như thế rồi. Nghệ sĩ lúc nào cũng ở tiền tuyến trong trận chiến. Và ngày nay chúng ta sống trong một thời khắc rất thú vị vì có thể kết nối với rất nhiều người.

Và còn, tôi nghĩ thật nguy hiểm với cách một số người nghĩ về cách mạng ngày nay. Chúng ta xem những thứ như Occupy Wall Street (4), Arab Sping (5) rồi tương tự. Và nhiều người hình như đang nghĩ cách mạng là một chuyển đổi lớn lao nào đó, kiểu như mọi người cùng nhau xuống phố và thay đổi mọi thứ, nhưng tôi không tin vào điều đó một chút nào cả. Tôi nghĩ đó là một trận chiến hàng ngày. Cách mạng phải diễn ra hàng ngày, từ chính cơ sở là cá nhân anh. Đó là những gì tôi cảm thấy khi nhìn thấy bạn bè mình thất vọng khi những phong trào Occupy đó không thành công thực sự. Họ có hi vọng, mọi người hi vọng rất nhiều, và rồi họ thất vọng với kết quả. Bởi vì trong quá nhiều lần mọi người nghĩ đến cách mạng… tôi nghĩ ý niệm về cách mạng ngày nay rất khác rồi, cách mạng mà ngày nay chúng ta phải chiến đấu thực sự rất yên lặng và kín đáo.

***

1: hay là rượu nếp nhỉ, mình không phải dân uống rượu nên cũng không rõ nữa

2: chưa tìm được tên tiếng Việt của người này, xin phép giữ nguyên bản tiếng Anh.

3: blessing

4: một phong trào chống lại bất bình đẳng kinh tế diễn ra vào năm 2011

5: chuỗi biểu tình, bạo động và bất bạo động diễn ra ở Trung Đông và Bắc Phi, bắt đầu năm 2010.

“Tôi thực sự nghĩ có hai phương thuốc mình luôn cần, một cho thể chất và một cho tâm hồn. Phương thuốc của thể chất là nước. Phương thuốc của tâm hồn là nói chuyện.”

Người thợ may của Khair Khana – Chương 1 phần 5

Tên/Title: The dressmaker of Khair Khana
Tác giả/Author: Gayle Tzemach Lemmon

Cập nhật:  Thứ 6 hàng tuần
Xem các phần khác và góp ý cho bản dịch tại đây

Khi em chồng cô từ căn hộ tầng trên xuống chăm sóc cho đứa con trai lớn, Malika ôm lấy Hossein và đưa nó vào trong chiếc áo choàng đen dài. Giữ con gần chiếc bụng to của mình, cô vội vã bước ra phía cửa vào con đường mười phút đi bộ tới phòng khám của bác sĩ.

Sự im lặng trên phố khiến Malika sợ hãi. Vào đầu buổi chiều hàng xóm của cô thường tụ tập quanh những nào là taxi, xe đạp, xe lừa, rồi xe tải, nhưng hôm nay phố phường hoàn toàn trống không.

Những tin đồn về đội quân đang đến đã khiến những người hàng xóm của cô giấu mình kĩ trong nhà, sau những cánh cổng và những khung cửa sổ. Giống như một trò chơi chờ đợi, không ai biết ngày tiếp theo sẽ mang đến điều gì.

Malika co rúm lại khi tiếng gót giày của cô kêu lên trên vỉa hè. Cô tập trung dán mắt xuống đất khi loay hoay cố gắng giữ những vạt rộng của chiếc khăn ở đúng vị trí, nhưng thớ vải nặng cứ trượt khỏi đầu cô, khiến cô phải làm như đang nhảy múa, chuyển qua chuyển lại đứa bé trong tay và thực hiện điệu nhảy kì dị để vừa choàng lại khăn, vừa che được đứa bé, lại vừa bước đi nhanh nhất có thể. Bóng chiều tà đã bắt đầu đổ xuống những dãy nhà và cửa hàng lộn xộn ở Karteh Parwan.

Cuối cùng Malika rẽ phải từ ngoài đường chính và đến một văn phòng nằm trải dài ở tầng trệt mấy cửa hàng tồi tàn, tất cả cùng chung sàn xi măng và có trần thấp. Một vài hàng đá nâu ngăn cách các cửa hàng với những căn hộ có ban công ở phía trên. May mắn khi đã vào được trong và để nghỉ một chút, Malika làm thủ tục đăng kí với bác sĩ, người vừa bước ra từ phòng kiểm tra khi nghe thấy tiếng cô.

“Con trai tôi bị cảm; tôi nghĩ nó ốm rất nặng”, cô nói. “Tôi đã đưa nó đến đây nhanh nhất có thể.”

Bác sĩ, người đàn ông lịch thiệp lớn tuổi mà gia đình chồng cô qua lại đã nhiều năm, nở một nụ cười tử tế.

“Không vấn đề gì, cô cứ ngồi đi đã. Sẽ không lâu đâu.”

Malika để Hossein xuống chiếc ghế gỗ trong căn phòng chờ tối và trống trải. Cô đến bên cửa, cố gắng giữ bình tĩnh, rồi xoa bụng một lúc và hít một hơi thật sâu. Hossein bé nhỏ đã tái nhợt đi và đôi mắt nó trở nên vô hồn, không cảm xúc. Cô vòng tay ôm lấy thằng bé và kéo nó lại gần mình.

Đột nhiên một tiếng ồn bên ngoài phố làm cô giật mình. Malika nhảy đến bên cửa sổ. Những đám mây xám xịt che phủ con phố và bên ngoài trời ngày càng tối. Thứ đầu tiên cô có thể nhận ra là một chiếc xe tải tối màu sáng bóng. Nhìn nó có vẻ mới, chắc chắn mới hơn phần lớn xe ở Kabul. Sau đó cô thấy ba người đàn ông đứng bên cạnh xe. Họ đội những chiếc khăn dày được vấn cao và cầm trong tay những cái gậy giống như dùi cui. Họ đang tìm kiếm ai đó hoặc cái gì đó, cô chỉ có thể đoán đến thế.

Rồi Malika bắt đầu nhận ra hình dáng trong đám lộn xộn phía trước họ là một phụ nữ. Cô nằm ở giữa phố, cuộn lại như một quả bóng, và đang cố tránh những cú đánh liên hoàn. Nhưng những gã đàn ông không dừng lại. Malika nghe thấy âm thanh đáng sợ của những cái dùi cui gỗ thụi xuống người phụ nữ bất lực… vào lưng, rồi vào chân, hết cú này đến cú khác.

“Chadri của mày đâu?” một gã quát vào mặt nạn nhân khi vung tay lên quá đầu để chuẩn bị đánh cô. “Sao mày không che mặt? Loại đàn bà gì mà lại ra ngoài như thế này?”

“Dừng lại”, người phụ nữ khẩn khoản. “Xin làm ơn. Tôi đã choàng khăn rồi mà. Tôi không có chadri. Trước đây chúng tôi chưa từng phải dùng đến nó!”

Cô bắt đầu khóc thổn thức. Malika nhìn mà mắt cũng ngấn nước. Bản năng ra lệnh cho cô chạy vào con phố và cứu lấy người phụ nữ tội nghiệp khỏi tay bọn tấn công. Nhưng lý trí của cô biết rằng điều đó là không thể. Nếu cô rời khỏi văn phòng của bác sĩ, cô cũng sẽ bị đánh như vậy. Những gã đàn ông đó sẽ không mảy may thương xót dù có phải đánh một phụ nữ có thai, cô nghĩ. Và cô còn có đứa con ốm yếu cần bảo vệ. Vì vậy cô đành đứng bất lực bên cửa sổ, lắng nghe người phụ nữ khóc, và tự lau đi nước mắt của mình.

“Mày nghĩ chế độ này là cuối cùng rồi à?” một gã trẻ tuổi quát. Mắt hắn tô phấn kohl[1] đen sì, thứ mỹ phẩm màu bóng đêm mà những tên lính Taliban hay dùng. “Đây không phải chỗ của Dr. Najibullah hay Mujahideen”, hắn nói, chiếc gậy lại giáng xuống lần nữa. “Chúng ta tin vào Sharia[2], luật đạo Hồi, và giờ đó là luật của mảnh đất này. Đàn bà con gái phải che mặt. Đây là lời cảnh cáo đấy.”

Cuối cùng những gã đàn ông quay lại xe và rời đi. Người phụ nữ trườn dậy để với lấy chiếc túi xách rơi trên phố và chầm chậm đi khập khiễng.

[1] Một thứ phấn đen đánh mi mắt của người A rập

[2] Đối với những người nói tiếng A rập, sharia là các quy tắc đạo đức và pháp luật tôn giáo của một tôn giáo tiên tri. Thuật ngữ sharia trong tiếng Anh phần lớn được xác định gắn với Hồi giáo. Sharia (luật Hồi giáo) đề cập đến một số vấn đề như tội phạm, chính trị và kinh tế, cũng như các vấn đề cá nhân như quan hệ tình dục, vệ sinh, chế độ ăn, cầu nguyện, nghi thức hàng ngày và ăn chay. (Theo Wikipedia)

Người thợ may của Khair Khana – Chương 1 phần 4

Tên/Title: The dressmaker of Khair Khana
Tác giả/Author: Gayle Tzemach Lemmon

Cập nhật:  Thứ 6 hàng tuần
Xem các phần khác và góp ý cho bản dịch tại đây

Chương 1 phần 4

Người mới đến và mọi thứ đổi thay

Kamila nghe thấy hai người bán hàng đang buôn chuyện trong ngày. […] Đầu tiên, một người đàn ông thấp bé với đầu hói và những nếp nhăn sâu, đang kể rằng em họ ông nói lực lượng của Massoud với những chiếc xe tải chất đầy đang lánh xa khỏi thủ đô. Người đàn ông còn lại lắc đầu ngờ vực.

“Chúng ta sẽ thấy rồi tiếp theo là điều gì”, ông ta nói. “Có lẽ mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn, Inshallah ạ. Nhưng tôi cũng không chắc.”

Chỉ huy Admad Shah Massoud là Bộ trưởng Bộ quốc phòng lúc bấy giờ và là một anh hùng quân đội người Tajik đến từ thung lũng Panjshir, không xa Parwan, quê nhà của gia đình Kamila là mấy. Trong những năm kháng chiến chống Nga, chính quyền Dr. Najibullah đã bỏ tù bố của Kamila vì nghi ngờ ông hỗ trợ cho Massoud, người được biết đến như “Sư tử vùng Panjshir” và là một trong những chiến binh Mujahideen nổi tiếng nhất. […]

Mùa hè trước năm 1996, Massoud đã thề sẽ ngăn chặn cuộc tấn công của Taliban thậm chí khi những cuộc ném bom bắn phá tàn nhẫn thủ đô vẫn tiếp tục và Taliban thì chiếm hết thành phố này đến thành phố khác. Nếu binh lính của chính phủ thực sự đang “thu xếp đồ” rời khỏi Kabul, thì có thể Taliban thực sự không còn xa nữa. Cô nhấc lên bước chân nặng nề và dán mắt xuống đất. Không cần tìm thêm rắc rối nữa. Khi đến được cánh cổng kim loại màu xanh lá ở góc con đường chính khá đông đúc của Khair Khana, cô thở phào nhẹ nhõm. Cô chưa bao giờ thấy biết ơn việc sống gần bến xe buýt hơn lúc này.

Cánh cổng rộng màu xanh kêu rền vang khi đóng lại phía sau Kamila, và mẹ cô, bà Ruhasva, vội vã chạy ra ngoài khoảng sân nhỏ để ôm lấy cô con gái của mình. Bà là một phụ nữ nhỏ nhắn với những búi tóc trắng ôm gọn khuôn mặt tròn phúc hậu. Bà hôn lên hai má Kamila và kéo cô lại gần. Bà Sidiqi đã nghe tin đồn đại về chuyến “viếng thăm” của Taliban cả buổi sáng nay, đi đi lại lại trong phòng khách suốt hai giờ đồng hồ vì lo lắng cho sự an toàn của con gái.

Cuối cùng, khi đã trở về nhà bên gia đình và rời xa bóng tối, Kamila nằm xuống nghỉ trên một chiếc gối mượt như nhung ở phòng khách. Cô chọn ra một cuốn sách ưa thích, một tập thơ đã sờn, và thắp sáng chiếc đèn bão với một trong số những hộp diêm trắng đỏ mà gia đình cô để quanh nhà để phòng trừ. Năng lượng ở đây là một thứ xa xỉ; chỉ chập chờn không đoán trước khoảng một hai giờ một ngày, nếu có, và mọi người đã học cách thích nghi với cuộc sống trong bóng tối. Một đêm dài lại sắp đến với họ, và họ chờ đợi trong lo lắng với những điều sẽ xảy ra tiếp theo. Ông Sidiqi đã nói một chút khi ngồi xuống cạnh con gái kế bên chiếc radio lắng nghe tin tức của đài BBC London.

Chỉ cách đó 4 dặm thôi, chị gái của Kamila, Malika đang phải trải qua một ngày nhiều biến cố hơn nhiều.

“Mẹ, con thấy khó chịu”, Hossein nói.

Bốn tuổi, thằng bé là con thứ hai của Malika và là đứa dì Kamila rất quý. Cô sẽ chơi với nó trong sân nhà ở Khair Khana, cùng đếm những con dê hay cừu thỉnh thoảng đi qua. Hôm nay cơ thể nhỏ bé của Hossein đang phải chịu đau bụng và tiêu chảy, với tình trạng càng tệ hơn khi chiều về. Thằng bé nằm trên sàn phòng khách với một chiếc giường xếp từ gối mà mẹ Malika đã làm ở giữa chiếc thảm lớn màu đỏ. Nó thở ra nặng nhọc trong giấc ngủ chập chờn.

Malika đã chăm chú quanh Hossein mà không biết phải giúp con thế nào. Cô đang mang bầu vài tháng đứa thứ ba và cả ngày chỉ ở trong nhà, vì lưu ý đến lời cảnh báo của một người hàng xóm lúc sáng sớm khuyên nên nghỉ làm vì Taliban đang tới. Một cách rối loạn, cô vừa khâu ráp các mảnh của chiếc com lê đang làm cho người hàng xóm lại với nhau, vừa lo lắng nhìn tình trạng của Hossein đang ngày càng tệ. Những hạt mồ hôi đầy khắp trán thằng bé, tay chân của nó lạnh ngắt. Nó cần gặp bác sĩ ngay.

Từ trong tủ quần áo, Malika chọn ra chiếc chador (hay khăn trùm đầu) lớn nhất mà cô có. Cô cẩn thận không chỉ che phần đầu mà còn cả nửa dưới của khuôn mặt. Giống như phần lớn phụ nữ trí thức khác ở Kabul, cô luôn luôn choàng khăn che qua tóc và vắt qua vai. Nhưng hôm nay thì khác; nếu như Taliban đang thực sự trên đường đến Kabul, họ sẽ ra lệnh tất cả phụ nữ phải che chắn hoàn toàn bằng burqa dài, mà ở Dari gọi là chadri; loại khăn che không chỉ phần đầu mà còn toàn bộ khuôn mặt. Quy định này đã có ở Herat và  Jalalabad, nơi vừa rơi vào tay Taliban vài tuần trước. Vì không có chiếc burqa nào, chiếc khăn quá cỡ là thứ gần nhất với quy định của Taliban mà Malika có thể đáp ứng. Và nó sẽ phải đáp ứng được.

Khi em chồng cô từ căn hộ tầng trên xuống chăm sóc cho đứa con trai lớn, Malika ôm lấy Hossein và đưa nó vào trong chiếc áo choàng đen dài. Giữ con gần chiếc bụng to của mình, cô vội vã bước ra phía cửa vào con đường mười phút đi bộ tới phòng khám của bác sĩ.

Sự im lặng trên phố khiến Malika sợ hãi. Vào đầu buổi chiều hàng xóm của cô thường tụ tập quanh những nào là taxi, xe đạp, xe lừa, rồi xe tải, nhưng hôm nay phố phường hoàn toàn trống không.

Người thợ may của Khair Khana – Chương 1 phần 3

Người thợ may của Khair Khana – Chương 1 phần 3

Tên/Title: The dressmaker of Khair Khana
Tác giả/Author: Gayle Tzemach Lemmon

Cập nhật:  Thứ 6 hàng tuần
Xem các phần khác và góp ý cho bản dịch tại đây

Chương 1 phần 3

Người mới đến và mọi thứ đổi thay

“Tôi không nghĩ thế”, bạn cô trả lời. “Tôi nghe trên radio nói họ đi đến đâu là cấm đoán đến đó, trường học và những thứ khác. Cả việc làm nữa. Trừ khi họ cho phép nếu không chúng ta sẽ chẳng thể rời khỏi nhà. Có lẽ họ chỉ ở đây vài tháng thôi…”

Kamila nhìn đăm đăm qua cửa sổ và cố gắng không để ý đến những cuộc trò chuyện xung quanh mình. Cô biết có thể cô gái kia nói đúng, nhưng cô không thể chịu nổi cái ý nghĩ về việc điều đó sẽ có nghĩa là gì đối với cô và bốn đứa em gái vẫn đang ở nhà. Cô nhìn theo người chủ những cửa hàng trên con phố bụi bặm đang dọn hàng như mọi khi, những hiệu ảnh, và những tiệm bánh. Cho đến bốn năm trở lại đây, lối vào các cửa hàng ở Kabul đã trở thành một cái phong vũ biểu[1] cho bạo lực trong ngày: khi các cánh cửa mở rộng có nghĩa là cuộc sống thường nhật vẫn sẽ tiếp diễn, dù cho có thỉnh thoảng bị chọc thủng bởi những phát tên lửa tầm xa. Nhưng khi cửa đóng vào giữa ban ngày, thì người Kabul biết rằng hiểm nguy đang cận kề và rằng, chính họ, tốt nhất là ghé vào những cửa tiệm trong nhà còn lại.

Chiếc xe buýt cũ kì cạch tiến về phía trước trong một hơi khói mù mịt và cuối cùng cũng đến điểm dừng của Kamila. Khair Khana, một vùng ngoại ô nhỏ phía Bắc Kabul, là nhà của một cộng đồng đông đảo người Tajik, nhóm dân tộc lớn thứ hai của Afghanistan. Như phần lớn gia đình Tajik khác, bố mẹ Kamila cũng đến từ phía Bắc. Phía Nam là nơi ở của người Pashtun[2] truyền thống. Bố của Kamila đã đưa gia đình đến Khair Khana trong chuyến đi nghĩa vụ cuối cùng trên cương vị một sĩ quan cấp cao của quân đội Afghan, nơi ông đã phục vụ cho tổ quốc hơn ba thập kỉ. Kabul, lúc đó trong suy nghĩ của ông, sẽ dành cho chín cô con gái của ông cơ hội học tập tốt nhất. Mà ông tin rằng, học tập chính là nhu cầu bức thiết của các con ông, gia đình ông, và tương lai đất nước ông.

Kamila vội vàng bước vào con phố bụi mù, giữ khăn quàng trước miệng để khỏi hít phải những muội than. Cô băng qua phía trước cửa hàng tạp hóa chật hẹp và xe gỗ chở rau của những người bán rong cà rốt và khoai tây. Với nụ cười trên môi, những cô dâu và chú rể ngập tràn trong hoa nhìn xuống cô từ trên một dãy ảnh cưới treo trên tường của một hiệu ảnh. Từ tiệm bánh tỏa ra một mùi hương ngon lành của bánh mì naan[3], theo sau đó là cửa hàng thịt, nơi những tảng thịt đỏ thẫm được treo trên những cái móc thép. Trên đường đi, Kamila nghe thấy hai người bán hàng đang buôn chuyện trong ngày. Giống như tất cả người Kabul còn ở lại thủ đô, những người này đã trưởng thành trong sự quen với việc các chế độ đến rồi lại đi, và họ rất nhạy bén đối với một sự sụp đổ tiềm tàng. Đầu tiên, một người đàn ông thấp bé với đầu hói và những nếp nhăn sâu, đang kể rằng em họ ông nói lực lượng của Massoud[4]  với những chiếc xe tải chất đầy đang lánh xa khỏi thủ đô. Người đàn ông còn lại lắc đầu ngờ vực.

“Chúng ta sẽ thấy rồi tiếp theo là điều gì”, ông ta nói. “Có lẽ mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn, Inshallah ạ. Nhưng tôi cũng không chắc.”

Chỉ huy Admad Shah Massoud là Bộ trưởng Bộ quốc phòng lúc bấy giờ và là một anh hùng quân đội người Tajik đến từ thung lũng Panjshir, không xa Parwan, quê nhà của gia đình Kamila là mấy. Trong những năm kháng chiến chống Nga, chính quyền Dr. Najibullah đã bỏ tù bố của Kamila vì nghi ngờ ông hỗ trợ cho Massoud, người được biết đến như “Sư tử vùng Panjshir” và là một trong những chiến binh Mujahideen nổi tiếng nhất. Sau khi Nga rút đi năm 1992, ông Sidiqi được trả tự do bởi lực lượng trung thành với Massoud, người giờ đang phục vụ cho chính phủ mới của Tổng thống Burhanuddin Rabbani. Ông Sidiqi đã đến làm việc với những người lính Massoud ở phía Bắc một thời gian, sau cùng quyết định nghỉ hưu ở Parwan, ngôi nhà thời trai trẻ, nơi mà ông yêu hơn bất cứ nơi nào trên thế giới này.

[1] Một dụng cụ đo gió và áp suất không khí, được dùng trong dự báo thời tiết. Ở đây ý nói đó là nơi chứng kiến hầu hết những gì diễn ra.

[2] Một dòng dõi của những chiến binh sống phần lớn ở Afghanistan và Pakistan. Bao gồm khoảng 60 bộ tộc, mỗi bộ tộc có lãnh thổ riêng.

[3] Một loại bánh truyền thống của Ấn Độ

[4] Ahmad Shah Massoud là một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự ở Afghanistan, một người chỉ huy quân sự quyền lực trong cuộn chiến chống sự Liên Xô từ năm 1979 đến năm 1989 và trong những năm sau chiến tranh.

Người thợ may của Khair Khana – Chương 1 phần 2

Tên/Title: The dressmaker of Khair Khana
Tác giả/Author: Gayle Tzemach Lemmon

Cập nhật:  Thứ 6 hàng tuần
Xem các phần khác và góp ý cho bản dịch tại đây

(Vì lí do cá nhân nên thời gian vừa rồi mình không đăng bài được, rất xin lỗi các bạn theo dõi)

Chương 1 phần 2

Người mới đến và mọi thứ đổi thay

Dù đã qua những năm tháng làm việc chăm chỉ và có kế hoạch đầy khả quan trong tương lai, nhưng sẽ không có lễ kỉ niệm hay chúc mừng nào tôn vinh thành tựu của Kamila. Cuộc nội chiến như mổ bụng các công trình kiến trúc công cộng và dân dụng của tầng lớp trung lưu, biến thành phố trở thành một mớ hỗn độn sụp đổ của đường xá, hệ thống nước vỡ, những tòa nhà đổ nát. Tên lửa được vận hành bởi những người chỉ huy cuộc chiến thường bay qua chân trời Kabul, rơi xuống đường phố của thủ đô và làm chết người dân một cách bừa bãi. Các sự kiện hàng ngày như lễ tốt nghiệp cũng trở nên quá nguy hiểm để chứng kiến, chứ chưa nói đến tham dự.

Kamila xếp tờ giấy chứng nhận phẳng phiu vào trong chiếc cặp tài liệu màu nâu cứng cáp và bước ra khỏi văn phòng người quản trị, bỏ lại đằng sau một hàng dài những người phụ nữ trẻ đang chờ đến lượt nhận bằng. Đi trong một hành lang sâu với những cửa sổ rộng sát mặt sàn trông ra cửa chính của Sayed Jamaluddin, cô lướt qua hai người phụ nữ đang say sưa trò chuyện giữa lối đi đông đúc. Cô không thể kìm khỏi việc nghe cuộc nói chuyện của họ.

“Nghe nói hôm nay họ sẽ đến”, người phụ nữ đầu tiên nói với bạn mình.

“Em họ tôi bảo họ đã đến bên ngoài Kabul rồi”, người kia thì thầm trả lời.

Kamila ngay lập tức hiểu “họ” là ai: Taliban, những người mà sự xuất hiện của họ giờ đã hoàn toàn không thể tránh khỏi. Tin tức ở thủ đô lan nhanh với một tốc độ đáng ngạc nhiên thông qua mạng lưới của những đại gia đình đã kết nối các tỉnh thành của Afghanistan với nhau. Tin đồn về sự xuất hiện của chế độ mới ngày càng không thể kiểm soát, và có những tiết lộ rằng phụ nữ đang gặp nguy hiểm. Tin đồn càng khó kiểm soát thì những vùng nông thôn xa xôi càng có thể tạo ra ngoại lệ cho những người phụ nữ trẻ của họ, nhưng Taliban đã nhanh chóng di chuyển để củng cố quyền lực ở khu vực đô thị. Cho đến nay họ chưa biết thất bại là gì.

Kamila đứng im lặng ở hành lang ngôi trường mà cô đã chiến đấu rất khó khăn để có thể bước vào, bất chấp mọi hiểm nguy, và lắng nghe cuộc hội thoại của hai cô bạn cùng lớp với cảm giác bất an dần xâm chiếm. Cô di chuyển đến gần hơn để có thể nghe họ nói chuyện rõ ràng hơn.

“Họ đã đóng cửa mấy trường nữ sinh ở Herat còn gì”, cô bạn mũi nhọn có nước da ngăm đen nói. Giọng cô chứa đầy sự lo lắng. Taliban đã giành được thành phố phía tây từ một năm trước. “Chị gái tôi nghe nói phụ nữ thậm chí còn không thể ra khỏi nhà một khi họ chiếm đóng. Trong khi sống thế này ở đây đã là tệ nhất với chúng ta rồi.”

“Thôi nào, có thể không đến mức đó đâu”, người bạn nắm lấy tay cô, trả lời. “Có thể thực ra họ mang chút hòa bình đến thì sao, cầu Chúa.”

Cầm cặp tài liệu chặt trong tay, Kamila vội vàng xuống tầng dưới để bắt chuyến buýt dài sẽ đưa cô về nhà mình ở khu Khair Khana.  Chỉ vài tháng trước đó cô còn đi bộ bảy dặm sau khi một tên lửa đâm xuống con đường ở Karteh Char, khu vực có trường của cô, làm hỏng mái của một bệnh viện cho lực lượng an ninh chính phủ và đình trệ dịch vụ xe buýt của thành phố cả buổi tối hôm đó.

Tất cả mọi người ở Kabul đều đã dần quen với việc tìm chỗ an toàn giữa những khung cửa hoặc dưới tầng hầm một khi nghe thấy tiếng kêu xé tai (mà giờ đã trở nên quen thuộc) của tên lửa đang đến gần. Một năm trước Viện đào tạo giáo viên đã chuyển địa điểm lớp học từ Karteh Char, nơi thường chịu thiệt hại bởi những vụ tấn công tên lửa và đạn cối, đến một nơi mà giám đốc Viện hi vọng rằng an toàn hơn ở một trường trung học Pháp đã-từng-sang-trọng dưới thị trấn. Không lâu sau đó thì, một tên lửa khác, cái này hướng đến Bộ Nội vụ, đã “hạ cánh” xuống ngay trước ngôi nhà mới của trường.

Tất cả những kí ức đó chạy đua qua tâm trí Kamila khi cô lên chiếc xe buýt “Millie” xanh nhạt rỉ sét đã từng là một phần dịch vụ của chính phủ và tìm vào chỗ ngồi của mình. Cô dựa vào chiếc cửa sổ lớn lấm tấm bùn và nghe những người phụ nữ quanh mình nói chuyện trong khi xe buýt bắt đầu di chuyển gập ghềnh qua những con phố đã bị xé nát của Karteh Char. Ai cũng có một phiên bản về ý nghĩa của chế độ mới đối với cư dân Kabul.

“Có lẽ họ sẽ mang đến sự bảo vệ”, một cô gái ngồi sau Kamila vài hàng nói.

Người thợ may của Khair Khana – Chương 1 phần 1

Tên/Title: The dressmaker of Khair Khana
Tác giả/Author: Gayle Tzemach Lemmon

Cập nhật:  Thứ 6 hàng tuần
Xem các phần khác và góp ý cho bản dịch tại đây

Chương 1 phần 1

Người mới đến và mọi thứ đổi thay

“Kamila Jan, tôi rất vinh hạnh được gửi đến cô giấy chứng nhận.”

Người đàn ông nhỏ bé với mái tóc màu xám, nếp nhăn sâu nói với giọng tự hào khi đưa cho người phụ nữ trẻ một tài liệu trông có vẻ chính thức. Kamila cầm tờ giấy và đọc:

Giấy này chứng nhận rằng Kamila Sidiqi đã hoàn thành thành khóa học tại Viện Đào tạo Giáo viên

KABUL[1], AFGHANISTAN

THÁNG 9 NĂM 1996

“Cảm ơn ông, Agha”, Kamila nói. Một nụ cười ấm áp xua tan băng giá xuất hiện trên gương mặt của cô. Cô là người phụ nữ thứ hai trong gia đình hoàn thành khóa học hai năm của trường Sayed Jamaluddin[2]; chị gái Malika của cô đã tốt nghiệp từ vài năm trước và giờ đang giảng dạy tại trường trung học ở Kabul. Nhưng dù sao thì, Malika cũng không phải đi đi về về tới lớp học với bom đạn và hỏa tiễn bắn phá không ngừng của cuộc nội chiến.

Kamila siết chặt tờ giấy quý giá. Khăn choàng đầu của cô được cuốn một cách bình thường, hơi trượt ra phía sau để lộ một vài lọn tóc xoăn đến ngang vai. Chiếc quần ống rộng màu tối chùm lên đôi giày đế thấp lấp ló phía dưới chiếc áo choàng dài chấm đất của cô. Phụ nữ Kabul vốn có tiếng tuân thủ nghiêm ngặt những giới hạn về may mặc ở đất nước truyền thống của họ, và Kamila cũng không phải ngoại lệ. Cho đến khi các lãnh đạo của phong trào chống Liên Xô, các Mujahideen (“chiến binh thánh”),  lật đổ chính quyền hậu thuẫn Moscow của Dr. Najibullah [3] vào 1992, thì rất nhiều phụ nữ Kabul đã đến thủ đô quốc tế[4] trong trang phục phương Tây, để lộ đầu của họ. Nhưng bây giờ, chỉ bốn năm sau đó, Mujahideen đã giới hạn những nơi công cộng và quần áo của phụ nữ trong phạm vi hẹp hơn, tách riêng khỏi văn phòng ủy với nam giới, khăn trùm đầu, và quần ống rộng, trang phục khiêm tốn. Phụ nữ Kabul, cả già và trẻ, đều theo đó mà mặc, dù rất nhiều người – như Kamila – đã làm theo luật một cách lạc quan với việc đi một đôi giày dưới chiếc áo choàng đen không hình thù.

Đó là một cuộc nổi dậy từ những năm 1950 và 60, khi những người phụ nữ Afghan thời trang bắt đầu lướt qua trang phục tao nhã như váy và áo vét phong cách châu Âu với khăn đội đầu được kết hợp một cách thông minh. Đến những năm 1970, sinh viên trường Đại học Kabul gây sốc với những người theo chiều hướng nông thôn bảo thủ bởi váy ngắn đến đầu gối và giày nhảy phong cách. Đó là những năm được xem như cao trào của các cuộc biểu tình trong trường đại học và sự náo động chính trị. Nhưng tất cả đều ổn trước thời của Kamila: cô được sinh ra chỉ hai năm trước cuộc đổ bộ Afphanistan của Liên Xô vào 1979, một sự kiện đã làm rộ lên cuộc chiến chống lại kéo dài hàng thập kỉ của người Afghan, đứng đầu bởi Mujahideen, lực lượng về sau đã lấy đi của người Nga đến giọt máu cuối cùng. Gần hai thập kỉ sau khi người Nga tràn vào Afghanistan, Kamila và bạn bè cô vẫn chưa được hưởng hòa bình. Sau khi quân Liên Xô thất bại và rút bỏ sự hỗ trợ cuối cùng dành cho Afghanistan vào 1992, những chiến binh thánh Mujahideen bắt đầu tranh đấu lẫn nhau  để giành quyền kiểm soát Kabul. Chỉ qua vài đêm, những khu phố dân cư trở thành chiến tuyến giữa những lực lượng bắn phá nhau từ cự ly gần.

Bất chấp cuộc nội chiến, gia đình của Kamila và hàng chục nghìn người Kabul khác vẫn đến trường và đến nơi làm việc như bình thường, trong khi phần lớn bạn bè và gia đình họ đến lánh nạn ở hai nước láng giềng Pakistan và Iran. Với tấm giấy chứng nhận mới trong tay, Kamila sẽ sớm bắt đầu học ở Viện Sư phạm Kabul, một trường đại học chung (cho cả nam và nữ) được thành lập vào đầu những năm 1980 khi Liên Xô đang tiến hành cải cách giáo dục, và chứng kiến sự mở rộng của các tổ chức nhà nước. Sau hai năm, cô sẽ có bằng cử nhân và bắt đầu việc giảng dạy ở Kabul. Cô hi vọng một ngày nào đó sẽ trở thành một giáo sư Dari[5] hay thậm chí có thể là văn học.

[1] Thủ đô của Afghanistan

[2]Tên của một nhà hoạt động chính trị và tư tưởng Hồi giáo vào những năm cuối thế kỉ 19, đặc biệt ở Trung Đông, Nam Á và châu Âu. Ông là một trong những người sáng lập chủ nghĩa Hiện đại Hồi giáo

[3] Dr. Mohammad Najibullah Ahmadzai, thường gọi là Najibullah hoặc Najib, Tổng thống Afghanistan từ 1987 đến 1992, khi các Mujahideen kiểm soát Kabul.

[4] Thủ đô có nhiều dân nhập cư từ khắp nơi trên thế giới

[5] Phương ngữ Ba Tư được nói ở Afghanistan, còn được gọi là tiếng Ba Tư Afghanistan

The Rosie Project – chap 7 part 3/3 (translation suspended)

Tên truyện: Dự án Rosie (The Rosie Project)
Tác giả: Graeme Simsion
Update mỗi thứ 2 – 6 hàng tuần
Đọc từ đầu: https://sunfollowerr.wordpress.com/2014/10/11/11102014-du-an-rosie-chuong-i-phan-1/
[Thông báo]: Vì truyện đã được xuất bản tại Việt Nam, nên mình sẽ dừng việc dịch truyện từ chương 8 (hết chương 7). Cảm ơn bạn đã theo dõi và hẹn gặp trong những truyện tiếp theo.

Chương 7 phần 3

Cô đưa cho tôi lá rong biển ép và cá khô. Tôi yêu cầu dầu macca[1], muối biển và cối xay tiêu từ ngăn nhu yếu phẩm.

“Rượu gạo Trung Quốc”, tôi nói thêm. “Sau đó là rượu.”

“Tất nhiên rồi”, Rosie nói.

Cô đưa tôi chai rượu, rồi nhìn vào những chai khác ở khu vực đồ uống chứa cồn. Tôi mua rượu thành từng nửa-chai.

“Vậy, thứ Ba nào anh cũng nấu bữa ăn thế này, đúng không?”

“Đúng.” Tôi đã liệt kê ra tám lợi ích lớn của Hệ thống Bữa ăn Chuẩn hóa.

  1. Không cần sưu tầm sách công thức nấu ăn.
  2. Danh sách mua sắm tiêu chuẩn – nâng cao hiệu quả mua sắm.
  3. Lãng phí gần như bằng không – không có gì trong tủ lạnh hay tủ đồ ăn bị bỏ trừ khi cần dùng cho mấy cái công thức nấu ăn.
  4. Kế hoạch ăn kiêng được thực hiện tốt và dinh dưỡng lại cân bằng.
  5. Không phí thời gian nghĩ xem tối nay ăn gì.
  6. Không phạm lỗi, không bị những bất ngờ tiêu cực.
  7. Đồ ăn ngon, cao cấp hơn phần lớn nhà hàng với mức giá rẻ hơn nhiều (xem điều 3).
  8. Khối lượng ý thức tối thiểu.

“Khối lượng ý thức?”

“Quy trình nấu ăn đã nằm hết trong đầu tôi rồi, thực tế không cần ý thức để tâm lắm.”

“Giống như khi đi xe đạp.”

“Đúng vậy.”

“Anh có thể làm tôm hùm mà không cần suy nghĩ à?”

“Sa-lát tôm hùm, xoài và lê với trứng cá bay bọc wasabi[2] và rong biển rán giòn cộng với hành chiên trang trí. Đúng vậy. Công đoạn hiện tại đang là lọc xương chim cút. Cái này vẫn cần có ý thức.”

Rosie cười to. Nó khiến tôi nhớ lại kí ức những ngày đi học. Những kí ức đẹp.

Trong khi tôi lấy được nguyên liệu thêm để trang trí từ trong tủ lạnh, Rosie lướt qua tôi với hai nửa chai rượu vang chablis[3] và đặt chúng vào trong ngăn đông lạnh cùng với mấy con tôm.

“Có vẻ như bữa tối của chúng ta đã ngừng bò lổm ngổm rồi.”

“Để chắc chúng chết hẳn cần thêm chút thời gian nữa”, tôi nói.

“Thật không may, Sự cố Áo khoác đã làm gián đoạn kế hoạch chuẩn bị. Mọi thời gian sẽ cần tính toán lại.” Tôi nhận ra rằng đáng ra tôi nên cho lũ tôm vào ngăn lạnh ngay khi chúng tôi về đến nhà, nhưng não bộ tôi đã quá tải bởi những vấn đề gây nên do sự hiện diện của Rosie. Tôi bước tới bảng trắng và bắt đầu viết lên đó thời gian tính toán lại. Còn Rosie đang kiểm tra nguyên liệu.

“Anh đã định ăn hết tất cả chỗ này một mình sao?”

Tôi đã không xem lại Hệ thống Bữa ăn Chuẩn hóa kể từ khi Daphne ra đi, và giờ tôi ăn salad tôm một mình vào mỗi Thứ Ba, bỏ rượu đi để bù cho lượng calo hấp thụ vào trong.

“Nhiêu đây đủ cho hai người”, tôi nói. “Thực đơn không thể giảm xuống được. Cô không thể mua mỗi nửa thân con tôm.” Tôi đã cố tình nói phần cuối hơi pha trò một chút, và Rosie phản ứng bằng việc bật cười.Tôi lại có giây phút thoải mái không ngờ nữa khi đang tính toán lại thời gian.

Rosie lại làm gián đoạn. “Nếu anh đang trong lịch trình bình thường thì bây giờ sẽ là mấy giờ?”

“6 giờ 38 tối”

Đồng hồ trên lò đã hiển thị 9 giờ tối. Rosie tìm ra chỗ điều khiển và bắt đầu điều chỉnh giờ. Tôi nhận ra cô ấy đang làm gì. Một giải pháp hoàn hảo. Khi cô kết thúc, đồng hồ đã hiện 6 giờ 38. Không cần tính toán lại nữa. Tôi chúc mừng cho suy nghĩ của cô. “Cô đã tạo ra một múi giờ mới rồi. Bữa tối sẽ bắt đầu vào lúc 8 giờ 55 – múi giờ của Rosie.”

“Vấn đề làm toán thôi mà”, cô nói.

Lời bình phẩm của cô cho tôi một cơ hội tiến đến một câu hỏi khác của Dự án Vợ. “Cô thấy toán học có khó không?”

Cô cười. “Đó chỉ là một trong số những phần khó nhất của công việc tôi làm thôi. Khiến tôi phát điên.”

Nếu như môn số học về hóa đơn quán bar và nhà hàng đơn giản mà đã vượt quá khả năng của cô, thì thật khó có thể tưởng tượng được làm thế nào chúng tôi lại có thể có những cuộc nói chuyện có ý nghĩa.

“Anh giấu cái mở nút chai đâu rồi?” cô hỏi.

“Rượu không có trong danh sách của thứ Ba.”

“M* nó chứ”, Rosie nói.

Phản ứng của Rosie cũng logic thôi. Tôi đã chỉ định ăn tối một mình. Đây là bước cuối cùng trong kế hoạch “bỏ rơi” buổi tối.

Tôi thông báo sự thay đổi. “Nhưng thời gian đã được xác định lại rồi. Các quy tắc trước đó không áp dụng nữa. Đồ uống cồn vì thế sẽ được khui trong Múi giờ Rosie.”

[1] Quả óc chó

[2] Sơn Quỳ, hay cải ngựa Nhật Bản: một loại rau thuộc họ cải, rễ có vị cay cực mạnh dùng để làm gia vị

[3] Rượu vang nguyên chất ở miền Đông nước Pháp