Người thợ may của Khair Khana – Chương 1 phần 4

Tên/Title: The dressmaker of Khair Khana
Tác giả/Author: Gayle Tzemach Lemmon

Cập nhật:  Thứ 6 hàng tuần
Xem các phần khác và góp ý cho bản dịch tại đây

Chương 1 phần 4

Người mới đến và mọi thứ đổi thay

Kamila nghe thấy hai người bán hàng đang buôn chuyện trong ngày. […] Đầu tiên, một người đàn ông thấp bé với đầu hói và những nếp nhăn sâu, đang kể rằng em họ ông nói lực lượng của Massoud với những chiếc xe tải chất đầy đang lánh xa khỏi thủ đô. Người đàn ông còn lại lắc đầu ngờ vực.

“Chúng ta sẽ thấy rồi tiếp theo là điều gì”, ông ta nói. “Có lẽ mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn, Inshallah ạ. Nhưng tôi cũng không chắc.”

Chỉ huy Admad Shah Massoud là Bộ trưởng Bộ quốc phòng lúc bấy giờ và là một anh hùng quân đội người Tajik đến từ thung lũng Panjshir, không xa Parwan, quê nhà của gia đình Kamila là mấy. Trong những năm kháng chiến chống Nga, chính quyền Dr. Najibullah đã bỏ tù bố của Kamila vì nghi ngờ ông hỗ trợ cho Massoud, người được biết đến như “Sư tử vùng Panjshir” và là một trong những chiến binh Mujahideen nổi tiếng nhất. […]

Mùa hè trước năm 1996, Massoud đã thề sẽ ngăn chặn cuộc tấn công của Taliban thậm chí khi những cuộc ném bom bắn phá tàn nhẫn thủ đô vẫn tiếp tục và Taliban thì chiếm hết thành phố này đến thành phố khác. Nếu binh lính của chính phủ thực sự đang “thu xếp đồ” rời khỏi Kabul, thì có thể Taliban thực sự không còn xa nữa. Cô nhấc lên bước chân nặng nề và dán mắt xuống đất. Không cần tìm thêm rắc rối nữa. Khi đến được cánh cổng kim loại màu xanh lá ở góc con đường chính khá đông đúc của Khair Khana, cô thở phào nhẹ nhõm. Cô chưa bao giờ thấy biết ơn việc sống gần bến xe buýt hơn lúc này.

Cánh cổng rộng màu xanh kêu rền vang khi đóng lại phía sau Kamila, và mẹ cô, bà Ruhasva, vội vã chạy ra ngoài khoảng sân nhỏ để ôm lấy cô con gái của mình. Bà là một phụ nữ nhỏ nhắn với những búi tóc trắng ôm gọn khuôn mặt tròn phúc hậu. Bà hôn lên hai má Kamila và kéo cô lại gần. Bà Sidiqi đã nghe tin đồn đại về chuyến “viếng thăm” của Taliban cả buổi sáng nay, đi đi lại lại trong phòng khách suốt hai giờ đồng hồ vì lo lắng cho sự an toàn của con gái.

Cuối cùng, khi đã trở về nhà bên gia đình và rời xa bóng tối, Kamila nằm xuống nghỉ trên một chiếc gối mượt như nhung ở phòng khách. Cô chọn ra một cuốn sách ưa thích, một tập thơ đã sờn, và thắp sáng chiếc đèn bão với một trong số những hộp diêm trắng đỏ mà gia đình cô để quanh nhà để phòng trừ. Năng lượng ở đây là một thứ xa xỉ; chỉ chập chờn không đoán trước khoảng một hai giờ một ngày, nếu có, và mọi người đã học cách thích nghi với cuộc sống trong bóng tối. Một đêm dài lại sắp đến với họ, và họ chờ đợi trong lo lắng với những điều sẽ xảy ra tiếp theo. Ông Sidiqi đã nói một chút khi ngồi xuống cạnh con gái kế bên chiếc radio lắng nghe tin tức của đài BBC London.

Chỉ cách đó 4 dặm thôi, chị gái của Kamila, Malika đang phải trải qua một ngày nhiều biến cố hơn nhiều.

“Mẹ, con thấy khó chịu”, Hossein nói.

Bốn tuổi, thằng bé là con thứ hai của Malika và là đứa dì Kamila rất quý. Cô sẽ chơi với nó trong sân nhà ở Khair Khana, cùng đếm những con dê hay cừu thỉnh thoảng đi qua. Hôm nay cơ thể nhỏ bé của Hossein đang phải chịu đau bụng và tiêu chảy, với tình trạng càng tệ hơn khi chiều về. Thằng bé nằm trên sàn phòng khách với một chiếc giường xếp từ gối mà mẹ Malika đã làm ở giữa chiếc thảm lớn màu đỏ. Nó thở ra nặng nhọc trong giấc ngủ chập chờn.

Malika đã chăm chú quanh Hossein mà không biết phải giúp con thế nào. Cô đang mang bầu vài tháng đứa thứ ba và cả ngày chỉ ở trong nhà, vì lưu ý đến lời cảnh báo của một người hàng xóm lúc sáng sớm khuyên nên nghỉ làm vì Taliban đang tới. Một cách rối loạn, cô vừa khâu ráp các mảnh của chiếc com lê đang làm cho người hàng xóm lại với nhau, vừa lo lắng nhìn tình trạng của Hossein đang ngày càng tệ. Những hạt mồ hôi đầy khắp trán thằng bé, tay chân của nó lạnh ngắt. Nó cần gặp bác sĩ ngay.

Từ trong tủ quần áo, Malika chọn ra chiếc chador (hay khăn trùm đầu) lớn nhất mà cô có. Cô cẩn thận không chỉ che phần đầu mà còn cả nửa dưới của khuôn mặt. Giống như phần lớn phụ nữ trí thức khác ở Kabul, cô luôn luôn choàng khăn che qua tóc và vắt qua vai. Nhưng hôm nay thì khác; nếu như Taliban đang thực sự trên đường đến Kabul, họ sẽ ra lệnh tất cả phụ nữ phải che chắn hoàn toàn bằng burqa dài, mà ở Dari gọi là chadri; loại khăn che không chỉ phần đầu mà còn toàn bộ khuôn mặt. Quy định này đã có ở Herat và  Jalalabad, nơi vừa rơi vào tay Taliban vài tuần trước. Vì không có chiếc burqa nào, chiếc khăn quá cỡ là thứ gần nhất với quy định của Taliban mà Malika có thể đáp ứng. Và nó sẽ phải đáp ứng được.

Khi em chồng cô từ căn hộ tầng trên xuống chăm sóc cho đứa con trai lớn, Malika ôm lấy Hossein và đưa nó vào trong chiếc áo choàng đen dài. Giữ con gần chiếc bụng to của mình, cô vội vã bước ra phía cửa vào con đường mười phút đi bộ tới phòng khám của bác sĩ.

Sự im lặng trên phố khiến Malika sợ hãi. Vào đầu buổi chiều hàng xóm của cô thường tụ tập quanh những nào là taxi, xe đạp, xe lừa, rồi xe tải, nhưng hôm nay phố phường hoàn toàn trống không.

Người thợ may của Khair Khana – Chương 1 phần 3

Người thợ may của Khair Khana – Chương 1 phần 3

Tên/Title: The dressmaker of Khair Khana
Tác giả/Author: Gayle Tzemach Lemmon

Cập nhật:  Thứ 6 hàng tuần
Xem các phần khác và góp ý cho bản dịch tại đây

Chương 1 phần 3

Người mới đến và mọi thứ đổi thay

“Tôi không nghĩ thế”, bạn cô trả lời. “Tôi nghe trên radio nói họ đi đến đâu là cấm đoán đến đó, trường học và những thứ khác. Cả việc làm nữa. Trừ khi họ cho phép nếu không chúng ta sẽ chẳng thể rời khỏi nhà. Có lẽ họ chỉ ở đây vài tháng thôi…”

Kamila nhìn đăm đăm qua cửa sổ và cố gắng không để ý đến những cuộc trò chuyện xung quanh mình. Cô biết có thể cô gái kia nói đúng, nhưng cô không thể chịu nổi cái ý nghĩ về việc điều đó sẽ có nghĩa là gì đối với cô và bốn đứa em gái vẫn đang ở nhà. Cô nhìn theo người chủ những cửa hàng trên con phố bụi bặm đang dọn hàng như mọi khi, những hiệu ảnh, và những tiệm bánh. Cho đến bốn năm trở lại đây, lối vào các cửa hàng ở Kabul đã trở thành một cái phong vũ biểu[1] cho bạo lực trong ngày: khi các cánh cửa mở rộng có nghĩa là cuộc sống thường nhật vẫn sẽ tiếp diễn, dù cho có thỉnh thoảng bị chọc thủng bởi những phát tên lửa tầm xa. Nhưng khi cửa đóng vào giữa ban ngày, thì người Kabul biết rằng hiểm nguy đang cận kề và rằng, chính họ, tốt nhất là ghé vào những cửa tiệm trong nhà còn lại.

Chiếc xe buýt cũ kì cạch tiến về phía trước trong một hơi khói mù mịt và cuối cùng cũng đến điểm dừng của Kamila. Khair Khana, một vùng ngoại ô nhỏ phía Bắc Kabul, là nhà của một cộng đồng đông đảo người Tajik, nhóm dân tộc lớn thứ hai của Afghanistan. Như phần lớn gia đình Tajik khác, bố mẹ Kamila cũng đến từ phía Bắc. Phía Nam là nơi ở của người Pashtun[2] truyền thống. Bố của Kamila đã đưa gia đình đến Khair Khana trong chuyến đi nghĩa vụ cuối cùng trên cương vị một sĩ quan cấp cao của quân đội Afghan, nơi ông đã phục vụ cho tổ quốc hơn ba thập kỉ. Kabul, lúc đó trong suy nghĩ của ông, sẽ dành cho chín cô con gái của ông cơ hội học tập tốt nhất. Mà ông tin rằng, học tập chính là nhu cầu bức thiết của các con ông, gia đình ông, và tương lai đất nước ông.

Kamila vội vàng bước vào con phố bụi mù, giữ khăn quàng trước miệng để khỏi hít phải những muội than. Cô băng qua phía trước cửa hàng tạp hóa chật hẹp và xe gỗ chở rau của những người bán rong cà rốt và khoai tây. Với nụ cười trên môi, những cô dâu và chú rể ngập tràn trong hoa nhìn xuống cô từ trên một dãy ảnh cưới treo trên tường của một hiệu ảnh. Từ tiệm bánh tỏa ra một mùi hương ngon lành của bánh mì naan[3], theo sau đó là cửa hàng thịt, nơi những tảng thịt đỏ thẫm được treo trên những cái móc thép. Trên đường đi, Kamila nghe thấy hai người bán hàng đang buôn chuyện trong ngày. Giống như tất cả người Kabul còn ở lại thủ đô, những người này đã trưởng thành trong sự quen với việc các chế độ đến rồi lại đi, và họ rất nhạy bén đối với một sự sụp đổ tiềm tàng. Đầu tiên, một người đàn ông thấp bé với đầu hói và những nếp nhăn sâu, đang kể rằng em họ ông nói lực lượng của Massoud[4]  với những chiếc xe tải chất đầy đang lánh xa khỏi thủ đô. Người đàn ông còn lại lắc đầu ngờ vực.

“Chúng ta sẽ thấy rồi tiếp theo là điều gì”, ông ta nói. “Có lẽ mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn, Inshallah ạ. Nhưng tôi cũng không chắc.”

Chỉ huy Admad Shah Massoud là Bộ trưởng Bộ quốc phòng lúc bấy giờ và là một anh hùng quân đội người Tajik đến từ thung lũng Panjshir, không xa Parwan, quê nhà của gia đình Kamila là mấy. Trong những năm kháng chiến chống Nga, chính quyền Dr. Najibullah đã bỏ tù bố của Kamila vì nghi ngờ ông hỗ trợ cho Massoud, người được biết đến như “Sư tử vùng Panjshir” và là một trong những chiến binh Mujahideen nổi tiếng nhất. Sau khi Nga rút đi năm 1992, ông Sidiqi được trả tự do bởi lực lượng trung thành với Massoud, người giờ đang phục vụ cho chính phủ mới của Tổng thống Burhanuddin Rabbani. Ông Sidiqi đã đến làm việc với những người lính Massoud ở phía Bắc một thời gian, sau cùng quyết định nghỉ hưu ở Parwan, ngôi nhà thời trai trẻ, nơi mà ông yêu hơn bất cứ nơi nào trên thế giới này.

[1] Một dụng cụ đo gió và áp suất không khí, được dùng trong dự báo thời tiết. Ở đây ý nói đó là nơi chứng kiến hầu hết những gì diễn ra.

[2] Một dòng dõi của những chiến binh sống phần lớn ở Afghanistan và Pakistan. Bao gồm khoảng 60 bộ tộc, mỗi bộ tộc có lãnh thổ riêng.

[3] Một loại bánh truyền thống của Ấn Độ

[4] Ahmad Shah Massoud là một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự ở Afghanistan, một người chỉ huy quân sự quyền lực trong cuộn chiến chống sự Liên Xô từ năm 1979 đến năm 1989 và trong những năm sau chiến tranh.

Người thợ may của Khair Khana – Chương 1 phần 2

Tên/Title: The dressmaker of Khair Khana
Tác giả/Author: Gayle Tzemach Lemmon

Cập nhật:  Thứ 6 hàng tuần
Xem các phần khác và góp ý cho bản dịch tại đây

(Vì lí do cá nhân nên thời gian vừa rồi mình không đăng bài được, rất xin lỗi các bạn theo dõi)

Chương 1 phần 2

Người mới đến và mọi thứ đổi thay

Dù đã qua những năm tháng làm việc chăm chỉ và có kế hoạch đầy khả quan trong tương lai, nhưng sẽ không có lễ kỉ niệm hay chúc mừng nào tôn vinh thành tựu của Kamila. Cuộc nội chiến như mổ bụng các công trình kiến trúc công cộng và dân dụng của tầng lớp trung lưu, biến thành phố trở thành một mớ hỗn độn sụp đổ của đường xá, hệ thống nước vỡ, những tòa nhà đổ nát. Tên lửa được vận hành bởi những người chỉ huy cuộc chiến thường bay qua chân trời Kabul, rơi xuống đường phố của thủ đô và làm chết người dân một cách bừa bãi. Các sự kiện hàng ngày như lễ tốt nghiệp cũng trở nên quá nguy hiểm để chứng kiến, chứ chưa nói đến tham dự.

Kamila xếp tờ giấy chứng nhận phẳng phiu vào trong chiếc cặp tài liệu màu nâu cứng cáp và bước ra khỏi văn phòng người quản trị, bỏ lại đằng sau một hàng dài những người phụ nữ trẻ đang chờ đến lượt nhận bằng. Đi trong một hành lang sâu với những cửa sổ rộng sát mặt sàn trông ra cửa chính của Sayed Jamaluddin, cô lướt qua hai người phụ nữ đang say sưa trò chuyện giữa lối đi đông đúc. Cô không thể kìm khỏi việc nghe cuộc nói chuyện của họ.

“Nghe nói hôm nay họ sẽ đến”, người phụ nữ đầu tiên nói với bạn mình.

“Em họ tôi bảo họ đã đến bên ngoài Kabul rồi”, người kia thì thầm trả lời.

Kamila ngay lập tức hiểu “họ” là ai: Taliban, những người mà sự xuất hiện của họ giờ đã hoàn toàn không thể tránh khỏi. Tin tức ở thủ đô lan nhanh với một tốc độ đáng ngạc nhiên thông qua mạng lưới của những đại gia đình đã kết nối các tỉnh thành của Afghanistan với nhau. Tin đồn về sự xuất hiện của chế độ mới ngày càng không thể kiểm soát, và có những tiết lộ rằng phụ nữ đang gặp nguy hiểm. Tin đồn càng khó kiểm soát thì những vùng nông thôn xa xôi càng có thể tạo ra ngoại lệ cho những người phụ nữ trẻ của họ, nhưng Taliban đã nhanh chóng di chuyển để củng cố quyền lực ở khu vực đô thị. Cho đến nay họ chưa biết thất bại là gì.

Kamila đứng im lặng ở hành lang ngôi trường mà cô đã chiến đấu rất khó khăn để có thể bước vào, bất chấp mọi hiểm nguy, và lắng nghe cuộc hội thoại của hai cô bạn cùng lớp với cảm giác bất an dần xâm chiếm. Cô di chuyển đến gần hơn để có thể nghe họ nói chuyện rõ ràng hơn.

“Họ đã đóng cửa mấy trường nữ sinh ở Herat còn gì”, cô bạn mũi nhọn có nước da ngăm đen nói. Giọng cô chứa đầy sự lo lắng. Taliban đã giành được thành phố phía tây từ một năm trước. “Chị gái tôi nghe nói phụ nữ thậm chí còn không thể ra khỏi nhà một khi họ chiếm đóng. Trong khi sống thế này ở đây đã là tệ nhất với chúng ta rồi.”

“Thôi nào, có thể không đến mức đó đâu”, người bạn nắm lấy tay cô, trả lời. “Có thể thực ra họ mang chút hòa bình đến thì sao, cầu Chúa.”

Cầm cặp tài liệu chặt trong tay, Kamila vội vàng xuống tầng dưới để bắt chuyến buýt dài sẽ đưa cô về nhà mình ở khu Khair Khana.  Chỉ vài tháng trước đó cô còn đi bộ bảy dặm sau khi một tên lửa đâm xuống con đường ở Karteh Char, khu vực có trường của cô, làm hỏng mái của một bệnh viện cho lực lượng an ninh chính phủ và đình trệ dịch vụ xe buýt của thành phố cả buổi tối hôm đó.

Tất cả mọi người ở Kabul đều đã dần quen với việc tìm chỗ an toàn giữa những khung cửa hoặc dưới tầng hầm một khi nghe thấy tiếng kêu xé tai (mà giờ đã trở nên quen thuộc) của tên lửa đang đến gần. Một năm trước Viện đào tạo giáo viên đã chuyển địa điểm lớp học từ Karteh Char, nơi thường chịu thiệt hại bởi những vụ tấn công tên lửa và đạn cối, đến một nơi mà giám đốc Viện hi vọng rằng an toàn hơn ở một trường trung học Pháp đã-từng-sang-trọng dưới thị trấn. Không lâu sau đó thì, một tên lửa khác, cái này hướng đến Bộ Nội vụ, đã “hạ cánh” xuống ngay trước ngôi nhà mới của trường.

Tất cả những kí ức đó chạy đua qua tâm trí Kamila khi cô lên chiếc xe buýt “Millie” xanh nhạt rỉ sét đã từng là một phần dịch vụ của chính phủ và tìm vào chỗ ngồi của mình. Cô dựa vào chiếc cửa sổ lớn lấm tấm bùn và nghe những người phụ nữ quanh mình nói chuyện trong khi xe buýt bắt đầu di chuyển gập ghềnh qua những con phố đã bị xé nát của Karteh Char. Ai cũng có một phiên bản về ý nghĩa của chế độ mới đối với cư dân Kabul.

“Có lẽ họ sẽ mang đến sự bảo vệ”, một cô gái ngồi sau Kamila vài hàng nói.

Người thợ may của Khair Khana – Chương 1 phần 1

Tên/Title: The dressmaker of Khair Khana
Tác giả/Author: Gayle Tzemach Lemmon

Cập nhật:  Thứ 6 hàng tuần
Xem các phần khác và góp ý cho bản dịch tại đây

Chương 1 phần 1

Người mới đến và mọi thứ đổi thay

“Kamila Jan, tôi rất vinh hạnh được gửi đến cô giấy chứng nhận.”

Người đàn ông nhỏ bé với mái tóc màu xám, nếp nhăn sâu nói với giọng tự hào khi đưa cho người phụ nữ trẻ một tài liệu trông có vẻ chính thức. Kamila cầm tờ giấy và đọc:

Giấy này chứng nhận rằng Kamila Sidiqi đã hoàn thành thành khóa học tại Viện Đào tạo Giáo viên

KABUL[1], AFGHANISTAN

THÁNG 9 NĂM 1996

“Cảm ơn ông, Agha”, Kamila nói. Một nụ cười ấm áp xua tan băng giá xuất hiện trên gương mặt của cô. Cô là người phụ nữ thứ hai trong gia đình hoàn thành khóa học hai năm của trường Sayed Jamaluddin[2]; chị gái Malika của cô đã tốt nghiệp từ vài năm trước và giờ đang giảng dạy tại trường trung học ở Kabul. Nhưng dù sao thì, Malika cũng không phải đi đi về về tới lớp học với bom đạn và hỏa tiễn bắn phá không ngừng của cuộc nội chiến.

Kamila siết chặt tờ giấy quý giá. Khăn choàng đầu của cô được cuốn một cách bình thường, hơi trượt ra phía sau để lộ một vài lọn tóc xoăn đến ngang vai. Chiếc quần ống rộng màu tối chùm lên đôi giày đế thấp lấp ló phía dưới chiếc áo choàng dài chấm đất của cô. Phụ nữ Kabul vốn có tiếng tuân thủ nghiêm ngặt những giới hạn về may mặc ở đất nước truyền thống của họ, và Kamila cũng không phải ngoại lệ. Cho đến khi các lãnh đạo của phong trào chống Liên Xô, các Mujahideen (“chiến binh thánh”),  lật đổ chính quyền hậu thuẫn Moscow của Dr. Najibullah [3] vào 1992, thì rất nhiều phụ nữ Kabul đã đến thủ đô quốc tế[4] trong trang phục phương Tây, để lộ đầu của họ. Nhưng bây giờ, chỉ bốn năm sau đó, Mujahideen đã giới hạn những nơi công cộng và quần áo của phụ nữ trong phạm vi hẹp hơn, tách riêng khỏi văn phòng ủy với nam giới, khăn trùm đầu, và quần ống rộng, trang phục khiêm tốn. Phụ nữ Kabul, cả già và trẻ, đều theo đó mà mặc, dù rất nhiều người – như Kamila – đã làm theo luật một cách lạc quan với việc đi một đôi giày dưới chiếc áo choàng đen không hình thù.

Đó là một cuộc nổi dậy từ những năm 1950 và 60, khi những người phụ nữ Afghan thời trang bắt đầu lướt qua trang phục tao nhã như váy và áo vét phong cách châu Âu với khăn đội đầu được kết hợp một cách thông minh. Đến những năm 1970, sinh viên trường Đại học Kabul gây sốc với những người theo chiều hướng nông thôn bảo thủ bởi váy ngắn đến đầu gối và giày nhảy phong cách. Đó là những năm được xem như cao trào của các cuộc biểu tình trong trường đại học và sự náo động chính trị. Nhưng tất cả đều ổn trước thời của Kamila: cô được sinh ra chỉ hai năm trước cuộc đổ bộ Afphanistan của Liên Xô vào 1979, một sự kiện đã làm rộ lên cuộc chiến chống lại kéo dài hàng thập kỉ của người Afghan, đứng đầu bởi Mujahideen, lực lượng về sau đã lấy đi của người Nga đến giọt máu cuối cùng. Gần hai thập kỉ sau khi người Nga tràn vào Afghanistan, Kamila và bạn bè cô vẫn chưa được hưởng hòa bình. Sau khi quân Liên Xô thất bại và rút bỏ sự hỗ trợ cuối cùng dành cho Afghanistan vào 1992, những chiến binh thánh Mujahideen bắt đầu tranh đấu lẫn nhau  để giành quyền kiểm soát Kabul. Chỉ qua vài đêm, những khu phố dân cư trở thành chiến tuyến giữa những lực lượng bắn phá nhau từ cự ly gần.

Bất chấp cuộc nội chiến, gia đình của Kamila và hàng chục nghìn người Kabul khác vẫn đến trường và đến nơi làm việc như bình thường, trong khi phần lớn bạn bè và gia đình họ đến lánh nạn ở hai nước láng giềng Pakistan và Iran. Với tấm giấy chứng nhận mới trong tay, Kamila sẽ sớm bắt đầu học ở Viện Sư phạm Kabul, một trường đại học chung (cho cả nam và nữ) được thành lập vào đầu những năm 1980 khi Liên Xô đang tiến hành cải cách giáo dục, và chứng kiến sự mở rộng của các tổ chức nhà nước. Sau hai năm, cô sẽ có bằng cử nhân và bắt đầu việc giảng dạy ở Kabul. Cô hi vọng một ngày nào đó sẽ trở thành một giáo sư Dari[5] hay thậm chí có thể là văn học.

[1] Thủ đô của Afghanistan

[2]Tên của một nhà hoạt động chính trị và tư tưởng Hồi giáo vào những năm cuối thế kỉ 19, đặc biệt ở Trung Đông, Nam Á và châu Âu. Ông là một trong những người sáng lập chủ nghĩa Hiện đại Hồi giáo

[3] Dr. Mohammad Najibullah Ahmadzai, thường gọi là Najibullah hoặc Najib, Tổng thống Afghanistan từ 1987 đến 1992, khi các Mujahideen kiểm soát Kabul.

[4] Thủ đô có nhiều dân nhập cư từ khắp nơi trên thế giới

[5] Phương ngữ Ba Tư được nói ở Afghanistan, còn được gọi là tiếng Ba Tư Afghanistan

The Rosie Project – chap 7 part 3/3 (translation suspended)

Tên truyện: Dự án Rosie (The Rosie Project)
Tác giả: Graeme Simsion
Update mỗi thứ 2 – 6 hàng tuần
Đọc từ đầu: https://sunfollowerr.wordpress.com/2014/10/11/11102014-du-an-rosie-chuong-i-phan-1/
[Thông báo]: Vì truyện đã được xuất bản tại Việt Nam, nên mình sẽ dừng việc dịch truyện từ chương 8 (hết chương 7). Cảm ơn bạn đã theo dõi và hẹn gặp trong những truyện tiếp theo.

Chương 7 phần 3

Cô đưa cho tôi lá rong biển ép và cá khô. Tôi yêu cầu dầu macca[1], muối biển và cối xay tiêu từ ngăn nhu yếu phẩm.

“Rượu gạo Trung Quốc”, tôi nói thêm. “Sau đó là rượu.”

“Tất nhiên rồi”, Rosie nói.

Cô đưa tôi chai rượu, rồi nhìn vào những chai khác ở khu vực đồ uống chứa cồn. Tôi mua rượu thành từng nửa-chai.

“Vậy, thứ Ba nào anh cũng nấu bữa ăn thế này, đúng không?”

“Đúng.” Tôi đã liệt kê ra tám lợi ích lớn của Hệ thống Bữa ăn Chuẩn hóa.

  1. Không cần sưu tầm sách công thức nấu ăn.
  2. Danh sách mua sắm tiêu chuẩn – nâng cao hiệu quả mua sắm.
  3. Lãng phí gần như bằng không – không có gì trong tủ lạnh hay tủ đồ ăn bị bỏ trừ khi cần dùng cho mấy cái công thức nấu ăn.
  4. Kế hoạch ăn kiêng được thực hiện tốt và dinh dưỡng lại cân bằng.
  5. Không phí thời gian nghĩ xem tối nay ăn gì.
  6. Không phạm lỗi, không bị những bất ngờ tiêu cực.
  7. Đồ ăn ngon, cao cấp hơn phần lớn nhà hàng với mức giá rẻ hơn nhiều (xem điều 3).
  8. Khối lượng ý thức tối thiểu.

“Khối lượng ý thức?”

“Quy trình nấu ăn đã nằm hết trong đầu tôi rồi, thực tế không cần ý thức để tâm lắm.”

“Giống như khi đi xe đạp.”

“Đúng vậy.”

“Anh có thể làm tôm hùm mà không cần suy nghĩ à?”

“Sa-lát tôm hùm, xoài và lê với trứng cá bay bọc wasabi[2] và rong biển rán giòn cộng với hành chiên trang trí. Đúng vậy. Công đoạn hiện tại đang là lọc xương chim cút. Cái này vẫn cần có ý thức.”

Rosie cười to. Nó khiến tôi nhớ lại kí ức những ngày đi học. Những kí ức đẹp.

Trong khi tôi lấy được nguyên liệu thêm để trang trí từ trong tủ lạnh, Rosie lướt qua tôi với hai nửa chai rượu vang chablis[3] và đặt chúng vào trong ngăn đông lạnh cùng với mấy con tôm.

“Có vẻ như bữa tối của chúng ta đã ngừng bò lổm ngổm rồi.”

“Để chắc chúng chết hẳn cần thêm chút thời gian nữa”, tôi nói.

“Thật không may, Sự cố Áo khoác đã làm gián đoạn kế hoạch chuẩn bị. Mọi thời gian sẽ cần tính toán lại.” Tôi nhận ra rằng đáng ra tôi nên cho lũ tôm vào ngăn lạnh ngay khi chúng tôi về đến nhà, nhưng não bộ tôi đã quá tải bởi những vấn đề gây nên do sự hiện diện của Rosie. Tôi bước tới bảng trắng và bắt đầu viết lên đó thời gian tính toán lại. Còn Rosie đang kiểm tra nguyên liệu.

“Anh đã định ăn hết tất cả chỗ này một mình sao?”

Tôi đã không xem lại Hệ thống Bữa ăn Chuẩn hóa kể từ khi Daphne ra đi, và giờ tôi ăn salad tôm một mình vào mỗi Thứ Ba, bỏ rượu đi để bù cho lượng calo hấp thụ vào trong.

“Nhiêu đây đủ cho hai người”, tôi nói. “Thực đơn không thể giảm xuống được. Cô không thể mua mỗi nửa thân con tôm.” Tôi đã cố tình nói phần cuối hơi pha trò một chút, và Rosie phản ứng bằng việc bật cười.Tôi lại có giây phút thoải mái không ngờ nữa khi đang tính toán lại thời gian.

Rosie lại làm gián đoạn. “Nếu anh đang trong lịch trình bình thường thì bây giờ sẽ là mấy giờ?”

“6 giờ 38 tối”

Đồng hồ trên lò đã hiển thị 9 giờ tối. Rosie tìm ra chỗ điều khiển và bắt đầu điều chỉnh giờ. Tôi nhận ra cô ấy đang làm gì. Một giải pháp hoàn hảo. Khi cô kết thúc, đồng hồ đã hiện 6 giờ 38. Không cần tính toán lại nữa. Tôi chúc mừng cho suy nghĩ của cô. “Cô đã tạo ra một múi giờ mới rồi. Bữa tối sẽ bắt đầu vào lúc 8 giờ 55 – múi giờ của Rosie.”

“Vấn đề làm toán thôi mà”, cô nói.

Lời bình phẩm của cô cho tôi một cơ hội tiến đến một câu hỏi khác của Dự án Vợ. “Cô thấy toán học có khó không?”

Cô cười. “Đó chỉ là một trong số những phần khó nhất của công việc tôi làm thôi. Khiến tôi phát điên.”

Nếu như môn số học về hóa đơn quán bar và nhà hàng đơn giản mà đã vượt quá khả năng của cô, thì thật khó có thể tưởng tượng được làm thế nào chúng tôi lại có thể có những cuộc nói chuyện có ý nghĩa.

“Anh giấu cái mở nút chai đâu rồi?” cô hỏi.

“Rượu không có trong danh sách của thứ Ba.”

“M* nó chứ”, Rosie nói.

Phản ứng của Rosie cũng logic thôi. Tôi đã chỉ định ăn tối một mình. Đây là bước cuối cùng trong kế hoạch “bỏ rơi” buổi tối.

Tôi thông báo sự thay đổi. “Nhưng thời gian đã được xác định lại rồi. Các quy tắc trước đó không áp dụng nữa. Đồ uống cồn vì thế sẽ được khui trong Múi giờ Rosie.”

[1] Quả óc chó

[2] Sơn Quỳ, hay cải ngựa Nhật Bản: một loại rau thuộc họ cải, rễ có vị cay cực mạnh dùng để làm gia vị

[3] Rượu vang nguyên chất ở miền Đông nước Pháp

The Rosie Project – chap 7 part 2/3

Tên truyện: Dự án Rosie (The Rosie Project)
Tác giả: Graeme Simsion
Update mỗi thứ 2 – 6 hàng tuần
Đọc từ đầu: https://sunfollowerr.wordpress.com/2014/10/11/11102014-du-an-rosie-chuong-i-phan-1/
[Thông báo]: Vì truyện đã được xuất bản tại Việt Nam, nên mình sẽ dừng việc dịch truyện từ chương 8 (hết chương 7). Cảm ơn bạn đã theo dõi và hẹn gặp trong những truyện tiếp theo.

Chương 7 phần 2

Tôi cảm thấy cực kì khó chịu với sự xâm phạm môi trường riêng tư này. Tôi đã cố gắng tập trung vào việc chuẩn bị đồ ăn khi Rosie bước ra khỏi tầm mắt về phía ban công. Tôi có thể nghe thấy tiếng cô kéo hai chậu cây lớn, mà hẳn chúng đã chết sau ngần ấy năm. Tôi cho hỗn hợp rau và gia vị vào chảo cùng với nước, muối, giấm, mirin[1], vỏ cam và hạt mùi.

“Tôi không biết anh đang nấu gì”, Rosie gọi với ra, “nhưng một cách cơ bản thì tôi là người ăn chay nhé.”

Người ăn chay! Tôi đã bắt đầu nấu rồi mà! Dựa trên những nguyên liệu đã mua khi tôi nghĩ sẽ ăn một mình. Và “một cách cơ bản” có nghĩa là gì – liệu có phải nó bao gồm mức độ linh hoạt một cách hạn chế, giống như đồng nghiệp Esther của tôi, người đã thừa nhận, chỉ khi với câu hỏi khắt khe, rằng sẽ ăn thịt lợn nếu cần thiết để tồn tại?

Người ăn chay và người ăn chay chặt chẽ có thể trở nên phiền phức đến khó tin. Gene từng đùa: “Làm thế nào để biết một người có phải người ăn chay hay không? Chỉ cần chờ mười phút thôi họ sẽ hiện ra ngay.” Nếu chỉ thế thôi thì đã không thành vấn đề. Không! Người ăn chay phải chờ đến tận bữa tối của bạn và nói “Tôi không ăn thịt”. Đây là lần thứ hai. Thảm họa Chân Giò Lợn xảy ra sáu năm trước đây, khi Gene gợi ý tôi mời một người phụ nữ đến nhà ăn tối. Cậu ta lấy lí do rằng khả năng nấu ăn của tôi sẽ khiến tôi hấp dẫn hơn và tôi còn không phải áp lực với vấn đề nhà hàng. “Và cậu có thể uống bao nhiêu cũng được rồi lết vào phòng ngủ.”

Người phụ nữ tên là Bethany, và hồ sơ trên mạng của cô không nói gì đến việc ăn chay. Hiểu rằng chất lượng bữa ăn có thể bị đem ra mổ xẻ, tôi mượn một cuốn sách mới xuất bản hướng dẫn các công thức “từ đầu đến đuôi” ở thư viện, và lên kế hoạch cho một bữa ăn phong phú các bộ phận thịt khác nhau: óc, lưỡi, màng ruột, tụy, thận, v.v.

Bethany đến đúng giờ và có vẻ rất hài lòng. Chúng tôi uống một ly rượu, sau đó mọi thứ bắt đầu xấu đi. Chúng tôi bắt đầu với chân giò lợn nướng, món này chuẩn bị khá phức tạp, và Bethany đã ăn rất ít.

“Tôi không hay ăn chân giò lợn lắm”, cô nói. Điều này cũng không có gì vô lý: tất cả chúng ta đều có những sở thích riêng và có thể cô ấy lưu tâm nhiều đến chất béo với cholesterol[2]. Nhưng khi tôi nêu ra “lịch trình” các món ăn tiếp theo, thì cô hùng hồn tuyên bố mình là người ăn chay. Thật không thể tin nổi!

Cô đề nghị đến ăn tối ở một nhà hàng, nhưng tôi không muốn bỏ dở chỗ thức ăn sau khi đã mất quá nhiều thời gian để chuẩn bị. Tôi ăn một mình và không gặp lại Bethany nữa.

Giờ đến lượt Rosie. Trong trường hợp này có thể lại là một điều tốt. Rosie có thể rời đi và cuộc đời tôi lại trở lại bình thường. Chắc chắn cô đã không điền vào bảng hỏi một cách trung thực, hoặc Gene đã có điều gì nhầm lẫn. Hoặc có thể cậu ta đã chọn cô vì cô quá gợi tình, một kiểu bụng ta suy bụng người.

Rosie quay trở lại vào trong, nhìn tôi, như chờ đợi một câu trả lời. “Hải sản thì không sao”, cô nói. “Nếu có thể chấp nhận được.”

Cảm xúc của tôi hỗn độn hết cả. Đáng ra tôi phải hài lòng khi giải pháp cho vấn đề đã được tìm ra, nhưng giờ Rosie sẽ ở lại ăn tối. Tôi đi vào phòng tắm, Rosie theo sau. Tôi nhặt tôm hùm ở trong bồn ra, nơi trước đó tôi thả chúng.

“Chết tiệt”, Rosie nói.

“Cô không thích tôm hùm sao?” Tôi mang chúng quay vào bếp.

“Tôi rất thích nhưng…”

Vấn đề đã trở nên rõ ràng và tôi có thể thông cảm.

“Cô thấy khó chịu với quy trình sát sinh này. Đồng ý.”

Tôi cho tôm hùm vào tủ lạnh, giải thích với Rosie rằng tôi đã nghiên cứu một số phương pháp tiêu-diệt-tôm-hùm, và đông lạnh được cho là phương pháp nhân đạo nhất. Tôi bật vài trang web cho cô tham khảo.

Trong khi tôm chết, Rosie đi quanh hít thở không ngừng. Cô mở tủ đồ ăn và có vẻ ấn tượng với mức độ tổ chức của nó: mỗi ngăn cho mỗi ngày trong tuần, cộng thêm không gian dành cho nhu yếu phẩm, rượu, bữa sáng, v.v… và ghi chép kinh phí ở sau cánh cửa.

“Anh muốn đến chỗ tôi phân loại giúp không?”

“Cô muốn thực hiện Hệ thống Bữa ăn Chuẩn hóa à?” Dù lợi ích của nó là rất lớn, nhưng phần lớn mọi người đều xem nó là kì quặc.

“Cứ lau dọn tủ lạnh là được rồi”, cô nói. “Tôi đoán là anh muốn nguyên liệu cho thứ Ba?”

Tôi xác nhận với cô rằng, vì hôm nay là thứ Ba, nên không cần phải đoán.

[1] Loại rượu gạo dùng để nấu ăn

[2] là một chất béo có ở màng tế bào của tất cả các mô trong cơ thể, được vận chuyển trong huyết tương của mọi động vật. Nó được sản xuất hàng ngày trong gan hoặc từ việc ăn uống các chất mỡ động vật. Cholesterol đóng vai trò trung tâm trong nhiều quá trình sinh hoá, nhưng lại được biết đến nhiều nhất do liên hệ đến bệnh tim mạch.

The Rosie Project – chap 7 part 1/3

Tên truyện: Dự án Rosie (The Rosie Project)
Tác giả: Graeme Simsion
Update mỗi thứ 2 – 6 hàng tuần
Đọc từ đầu: https://sunfollowerr.wordpress.com/2014/10/11/11102014-du-an-rosie-chuong-i-phan-1/
[Thông báo]: Vì truyện đã được xuất bản tại Việt Nam, nên mình sẽ dừng việc dịch truyện từ chương 8 (hết chương 7). Cảm ơn bạn đã theo dõi và hẹn gặp trong những truyện tiếp theo.

Chương 7 phần 1

“Chà, Quý ngài Ngăn Nắp. Sao mà đến tranh trên tường cũng không có lấy một cái?”

Tôi chưa có vị khách nào đến thăm kể từ khi Daphne chuyển ra khỏi tòa nhà. Tôi biết là mình chỉ cần để thêm một bộ đĩa và dao nĩa ra thôi. Nhưng buổi tối hôm đó đã đủ căng thẳng rồi, và mọi hưng phấn gây ra bởi chất adrenaline[1] cũng đã bốc hơi ngay sau sự cố Áo Khoác, ít nhất là đối với tôi. Còn Rosie thì dường như lúc nào cũng ở trong trạng thái buồn vui thất thường.

Chúng tôi đang ở trong khu vực phòng khách, chỗ nối liền vào nhà bếp.

“Bởi vì sau một thời gian tôi sẽ không để ý đến chúng nữa. Bộ não người được kết nối để tập trung vào sự khác biệt trong môi trường của nó – nên nó có thể nhanh chóng nhận ra một con thú ăn thịt. Nếu tôi treo tranh hoặc những vật dụng trang trí khác, tôi sẽ chỉ nhận thấy sự hiện diện của chúng trong vài ngày rồi bộ não của tôi sẽ phớt lờ chúng đi thôi. Nếu muốn xem các tác phẩm nghệ thuật, tôi sẽ đến phòng trưng bày. Những bức tranh ở đó có chất lượng cao hơn, và chi phí tổng thể theo thời gian cũng ít hơn so với giá mua những tấm áp phích rẻ tiền.” Thực ra, tôi đã không đến một phòng tranh nghệ thuật kể từ ngày mùng mười tháng năm, ba năm trước. Nhưng thông tin này sẽ khơi dậy tranh cãi và tôi thấy không có lí do gì để chia sẻ nó với Rosie cũng như mở mang thêm những khía cạnh khác trong đời sống riêng tư của tôi ra để chất vấn.

Rosie đã bỏ qua vấn đề đó và giờ đang xem bộ sưu tập CD của tôi. Công việc điều tra này đang dần trở nên phiền hà. Bữa tối đã muộn rồi thì chớ.

“Anh thực sự yêu thích Bach nhỉ”, cô nói. Đó là một kết luận dễ hiểu, khi bộ sưu tập CD của tôi chỉ gồm toàn các tác phẩm của nhà soạn nhạc này. Nhưng không đúng.

“Tôi quyết định tập trung vào Bach sau khi đọc Gödel, Escher, Bach của Douglas Hofstadter. Không may là tôi không phát triển được nhiều lắm. Tôi không nghĩ rằng trí óc tôi làm việc đủ nhanh để giải mã những thông điệp trong âm nhạc.”

“Chứ không phải anh nghe vì thích thú sao?”

Cuộc hội thoại bắt đầu nghe giống như trong bữa tối trước đây với Daphne và tôi không trả lời.

“Anh có một chiếc iPhone chứ?” cô nói.

“Tất nhiên, nhưng tôi không dùng nó cho âm nhạc. Tôi download podcast[2].”

“Để tôi đoán nhé – là về di truyền học.”

“Khoa học nói chung thôi.”

Tôi vào bếp bắt đầu chuẩn bị bữa tối và Rosie đi theo, sau dừng lại trước thời gian biểu của tôi trên bảng trắng.

“Chà”, cô lặp lại. Phản ứng như vậy cũng hoàn toàn có thể đoán được. Tôi thắc mắc liệu cô ấy sẽ phản ứng thế nào trước DNA hay thuyết tiến hóa.

Tôi bắt đầu sắp xếp lại rau củ từ trong tủ lạnh. “Để tôi giúp”, cô nói. “Tôi có thể thái hoặc gì đó.” Khả năng ở đây là một người ít kinh nghiệm và không quen thuộc với công thức nấu ăn cũng có thể làm công việc cắt thái đơn giản. Sau khi cô đã nói là không thể nấu ăn dù là để sống, tôi đã mường tượng ra cả đống hành và mảnh rau thơm bị trộn lẫn lộn vào nhau.

“Không cần trợ giúp gì đâu”, tôi nói. “Đọc sách cũng được.”

Tôi nhìn Rosie đi đến giá sách, nhanh chóng nghiên cứu qua nội dung, rồi đi sang chỗ khác. Có lẽ cô đã sử dụng “phần mềm” của IBM chứ không phải của Mac, dù có rất nhiều thứ mà cả hai đều đọc được.

Hệ thống âm thanh có một cổng iPod tôi hay dùng để bật podcast trong khi nấu ăn. Rosie cắm điện thoại của cô vào, và âm nhạc bắt đầu phát ra từ loa. Dù không to lắm, nhưng tôi chắc chắn rằng nếu tôi bật podcast của mình lên khi đến chơi nhà ai đó mà chưa được phép, thì đó sẽ bị buộc tội như một lỗi giao tiếp xã hội. Còn một cách vô cùng chắc chắn thì, tôi đã phạm chính xác sai lầm đó ở một bữa tiệc tối bốn năm sáu mươi bảy ngày trước.

Rosie tiếp tục công cuộc khám phá của cô, giống một con vật trong một môi trường sống mới, mà cũng đúng là hoàn cảnh của cô bây giờ. Cô mở rèm cuộn[3] và kéo chúng lên, làm một chút bụi bay ra. Tôi tự thấy bản thân mình khá cầu toàn trong việc lau chùi, nhưng tôi không cần mở rèm cuộn và vì thế có thể còn bụi ở những chỗ không chạm tới được. Đằng sau rèm là cửa, Rosie bỏ chốt và mở cửa.

[1] Một loại hoocmon do cơ thể tiết ra khi một người ở trạng thái cảm xúc mạnh (căng thẳng, hưng phấn, tức giận,…) khiến cho tim đập nhanh hơn và cung cấp cho người đó nhiều năng lượng hơn. Được dùng để chữa một số bệnh về tim.

[2] Kết hợp giữa 2 từ iPod và broadcast (phát sóng), dùng để chỉ những bản tin phát thanh qua internet.

[3] Loại rèm gồm các thanh nằm ngang (bằng gỗ hoặc nhựa) có thể kéo lên xuống hoặc thay đổi độ nghiêng.