Bay đêm: Người ta còn giàu có vì cả những nỗi khốn cùng

Nỗi khốn cùng trên những con tàu bay giữa biển trời. Cô đơn giữa sống và chết. Khi mặt đất trở nên nhỏ bé như thế giới ngầm dưới đáy biển. Nhưng, “Một khi đã vạch xong con đường, con người không thể nào không đi tiếp.”

Tiểu thuyết: Bay đêm
Tác giả       : Antoine De Saint-Exupéry
NXB Văn học, công ty Văn hoá & Truyền thông Nhã Nam
Năm 2013

Bìa ấn bản 2013
Bìa ấn bản 2013

 

Tác giả của Hoàng tử bé

Sinh ngày 29/6/1900, Antoine De Saint-Exupéry từ nhỏ đã nuôi dưỡng một niềm đam mê bất tận với máy bay và công việc viết. Ông đã thực hiện nghĩa vụ quân sự tại trung đoàn không quân ở Strasbourg và Casablanca. Ông từng có thời gian lái những chiếc máy bay chuyên chở thư tín qua lại giữa Toulouse và Dakar.

Antoine-de-Saint-Exupery

Bay đêm được sáng tác chính trong thời gian này, tiếp sau 2 cuốn Phi côngThư phương Nam. Được xuất bản lần đầu năm 1931, Bay đêm là cuốn tiểu thuyết kể về những chuyến bay của các máy bay chở thư tín. Qua câu chuyện về tổ bay của công ty Buenos-Aries, tác giả của Hoàng tử bé đã chứng tỏ mình không chỉ là một nhà văn mà còn là một phi công đích thực với việc mô tả những chuyến bay một cách chân thực và sống động. Ngay sau đó vào 1932, Bay đêm đã được xuất bản ở Anh và Mỹ, sau đó đạt giải thưởng Fémina.

Bay

Người đọc sẽ rất thích thú với Bay đêm khi được trải nghiệm không khí của ngành hàng không những năm đầu máy bay mới được con người đưa vào sử dụng. Nguyên mẫu của Bay đêm là những chiếc máy bay kiểu Breguet 14, có khoang lái hở, chỉ đủ chỗ tối đa cho phi công và 1-2 hành khách. Với động cơ thô sơ, mỏng manh như vậy, mỗi chuyến bay của tổ bay lại trở thành một “trận chiến” mà họ không có sự lựa chọn nào khác ngoài chiến thắng để trở về. Đọc Bay đêm là cảm nhận được cái hùng vĩ của bầu trời. Những hồi hộp, lo lắng đến cùng với chuyến bay giữa đêm lạnh, khi phương tiện liên lạc với trạm dừng chủ yếu là điện báo và những mảnh giấy, con người càng trở nên bé nhỏ trước tự nhiên.

Dũng cảm

Bay đêm là câu chuyện của lòng dũng cảm. Một khúc ngợi ca những con người tiên phong trong ngành hàng không. Đó là lòng dũng cảm của những phi công như Fabien khi ngày ngày đối mặt với những chuyến phiêu lưu sống còn trên bầu trời. Đó là lòng dũng cảm của người vợ trẻ khi chờ đợi chồng trở về. Lòng dũng cảm của những nhân viên, thợ máy. Lòng dũng cảm của người giám đốc đầy tình thương khi dành cho đồng đội và phi công của mình những đào luyện nghiêm khắc.

Nhắc đến giám đốc Rivière là nhắc đến một vị sếp cứng rắn và kỉ luật. Ông luôn ép bản thân mình vào khuôn khổ và nguyên tắc, quy định. Tuy nhiên chính những nguyên tắc ấy lại khiến ông luôn phải đấu tranh với những quyết định của mình. Giáng chức người phi công lâu năm chỉ vì một sai sót, cho nghỉ việc nhân viên kĩ thuật làm trục trặc hệ thống điện… dù họ mới chỉ làm sai lần đầu trong cả một quãng thời gian làm đúng. Vì đối với ông, sai sót đồng nghĩa với nguy hiểm, lỗi lầm đồng nghĩa với cái chết. Ông tự dằn lòng rằng mình đang loại bỏ những sai lầm, chứ không phải loại bỏ những con người đầy yêu mến kia. “Ta công bằng hay bất công? Không biết. Nếu ta cứng rắn, các hỏng hóc giảm hẳn. Kẻ chịu trách nhiệm không phải con người, nó giống như một thế lực tối tăm không khi nào con người đụng tới được nếu không đụng chạm tới mọi người. Nếu ta hết sức công bằng, mỗi chuyến bay đêm sẽ là một khả năng chết chóc.” Ông thà rầy la cấp dưới còn hơn để đêm tối hù doạ họ. Khi máy bay của Fabien bị mất tích không trở về, trong sự chờ đợi bình lặng của người thủ trưởng đó là cả một cơn dông dữ dội. Một nhân vật đặc biệt khơi gọi nhiều yêu mến. Không chỉ là sự nguyên tắc khô cằn, người đọc sẽ còn được thấy nhiều hơn nữa ở nhân vật này.

Những triết lí cuộc sống

Chẳng phải ngẫu nhiên mà Antoine De Saint-Exupéry được gọi là nhà văn – triết gia. Trong những tác phẩm của ông, dù là dành cho thiếu nhi như Hoàng tử bé hay dành cho đông đảo độc giả như Bay đêm, dù là trực tiếp hay gián tiếp đều chứa đựng ít nhiều những triết lí thấm thía về cuộc sống. Đối với Bay đêm, đó là “Người ta còn giàu có thêm vì cả những khốn cùng”. Hay: “Đôi khi, sau trăm kilomet thảo nguyên còn hoang vắng hơn cả biển cả, anh bay ngang một nông trại hẻo lánh, chợt thấy như nó chở nặng những kiếp người lui lại phía sau.” Saint-Exupéry luôn vẽ nên cái đẹp một cách rất tài tình. Và Bay đêm cũng là bản nhạc đẹp đẽ như vậy, giống như những tác phẩm khác của Saint-Exupéry, đều nhằm hoàn thiện và xây dựng phẩm chất con người, thế giới.

Nhân vật trong truyện được lấy từ nguyên mẫu hiện thực – Didier Daurat , người thủ trưởng mà Saint- Exupéry kính trọng. Tác phẩm đã được chuyển thể thành phim.

“Những mảnh đời được ban tặng – Chiến dịch không vận trẻ em 1975”

Dana Sachs

NXB Trẻ – 2013

“Vì chiến tranh đâu phải trò đùa…”

Đã hơn 30 năm kể từ khi đất nước Việt Nam giành lại được độc lập từ tay thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong khoảng thời gian đó, mảnh đất một thời lửa bom này đã có nhiều đổi thay. Cuộc sống bước sang một trang mới. Duy chỉ có một điều còn mãi, đó là những nỗi đau mà chiến tranh để lại. Đó không chỉ là thương vong, máu chảy, là những gia đình đã vĩnh viễn mất đi một phần của mình.

 

Vào thời điểm ấy, 4/1975, khi cuộc chiến chuẩn bị kết thúc, hàng nghìn đứa trẻ – phần lớn được coi là trẻ mồ côi, trước sự lo sợ bị phân biệt đối xử và trả thù bởi những người Cộng Sản do mang dòng máu lai Mỹ-Á, đã được đưa ra khỏi Việt Nam để đi làm con nuôi ở khắp nơi trên thế giới, chủ yếu là Mỹ trong một chương trình được gọi là “Chiến dịch không vận trẻ em”. Một sự kiện bên lề nhưng ảnh hưởng đến cuộc đời và số phận của biết bao nhiêu con người. Cái giá phải trả, trước hết là những cuộc chia ly, phải xa rời nơi cội nguồn gốc rễ của mình. Song cái mà những con người đó nhận được, bên cạnh những cuộc đời mới, là không ít những khoảng trống tâm hồn về quá khứ, những dằn vặt đau khổ khi họ còn giữ lại chút kí ức ít ỏi về quá khứ của mình.

 

“Tôi cần phải biết mình là ai để biết mình sẽ đi về đâu.”

 biasach dana

Cuốn sách mang đến một cái nhìn nhiều phía và tương đối chi tiết về chiến dịch đã từng được cho là “nhân đạo một cách vĩ đại” của chính phủ Mỹ trong việc nỗ lực bảo vệ và đem đến một cuộc sống tốt đẹp hơn cho những trẻ em Việt Nam. Nhưng sự thực có đúng là như vậy hay không? Bằng sự nhiệt thành và kinh nghiệm hơn 20 năm viết về Việt Nam, Dana Sachs đã tập trung nghiên cứu nhiều nguồn tư liệu, trong đó có cả những nhân chứng sống, để trả lời cho câu hỏi: “Điều gì là tốt hơn, khổ cực ở quê hương mình hay sung sướng ở xứ người?”

Mất

Khoảnh khắc khi ngỡ như một thứ gì đó đã mất đi…

Lo sợ.

Hoang mang.

Nghi ngờ.

Hối tiếc.

Vài phút giây ngắn ngủi ngỡ như cả quãng đường dài…

Nhận thấy bản thân mình thật trẻ con và nông cạn biết bao nhiêu, nóng vội và thiếu tình thương biết bao nhiêu.

Liệu có ngày nào tôi có thể trở nên xứng đáng với bản thân mình…

Nhưng, sợ mất cũng là bởi vì có tình thương, đúng không? Thương nhiều đến mức có khi chẳng dám chạm tới, chẳng dám có được.

Vì có nghĩa là sẽ mất.

Đã bao lần tôi tự nhủ bản thân phải bình tĩnh. Xong rồi cũng không làm được. Cảm xúc cứ lên cứ xuống tùy tiện như sóng thần thế thôi. *Dù sóng thần mà tùy tiện thì đúng là nguy hiểm thật*

 

 

“According to Aristophanes in Plato’s Symposium, in the ancient world of myth there were three types of people,” Oshima says.  “Have you heard about this?”

“No.”

“In ancient times people weren’t just male or female, but one of three types: male/male, male/female, female/female. In other words, each person was made out of the components of two people. Everyone was happy with this arrangement and never really gave it much thought. But then God took a knife and cut everybody in half, right down the middle. So after that the world was devided just into male and female, the upshot being that people spend their time running around trying to locate their missing other half.”

(Haruki Murakami – Kafka on the shore)

Tha thứ

Đây là post tôi giữ chỗ cho ngày đẹp giờ đẹp hôm nay. Sẽ edit sau.

***

Lâu lắm rồi mới quyết định viết note. Chẳng nhân dịp gì. Chẳng nguyên do gì đặc biệt. Cơ bản là cảm thấy cần.

“May you be well

May you be happy

May you be peaceful

May you be loved”

Chẳng phải người ta vẫn thường nói, cuộc đời quá ngắn ngủi để căm ghét ai đó đấy sao? Nhưng khi ở vào cái trạng thái chịu thương tổn rồi thì không phải ai cũng hồn nhiên bước qua được.

Không phải ai cũng hồn nhiên nhận sự ấm áp của kẻ hôm trước vừa giơ tay tát vào mặt mình.

Nhất là khi đó lại là những gương mặt thân thiết.

Người này, ngỡ rằng cả cuộc đời sẽ yêu thương ta, trân trọng ta. Hoặc không cần đến mãi mãi, chỉ là trong lúc ta vẫn chưa làm gì sai, người đó đâu có lí do gì thay đổi chứ.

Nhưng hy vọng chỉ là ảo vọng. Ngay từ đầu người đã không trân trọng ta rồi. Những gì mà ta vẫn thấy, chỉ là bản năng trách nhiệm mà ai cũng có. Khi người bột phát thì từ những gì thật nhất, ta hiểu rằng ta chẳng là gì đối với người, thậm chí sự tồn tại của ta, đối với người còn chẳng mảy may ý nghĩa.

Có lẽ (lại có lẽ, dù chưa có lẽ lần nào), sai lầm xuất phát từ việc đau mà không nói, thắc mắc mà không giãi bày. Tích tụ dần lại mới thành một cái trách hận ngớ ngẩn dở hơi đến thế này.

Khi một người từng làm bạn tổn thương quay về yêu thương bạn, bạn nên tha thứ phải không? Tha thứ cũng có thời điểm. Chẳng xét đến cao thượng hay ích kỉ, đúng lúc thì sẽ không mất đi ai.

Bây giờ đến lúc rồi phải không?

Nhưng điều đó với tôi không quan trọng. Tha thứ không phải là cái tôi muốn.

.

Đôi khi tôi tự hỏi, với những vết thương đó mang theo, mà vẫn chấp nhận người đó, liệu có phải là bao dung. Hay là cố chấp.

Tha thứ không phải là cái tôi muốn. Tôi chỉ muốn quên.

Làm sao để những điều đó chưa từng xảy ra, làm sao để người đó chưa từng tổn thương tôi.

“May I be well

May I be happy

May I be peaceful

May I be loved”

Những người thợ xẻ – chút gì đó từ núi rừng

Mưu sinh. Tha hóa. Tình yêu. Luật của rừng.

Lần đầu tiếp xúc với “Những người thợ xẻ” – Nguyễn Huy Thiệp, những gì đọng lại trong tôi chỉ là một chuỗi những gương mặt, những hình ảnh và mối quan hệ xoay vần trong thế giới của riêng họ – dù trần trụi hay nghiệt ngã, thì cũng như ở một nơi nào đó khác – xa xăm và có phần buồn tẻ. Một cơn mưa trong đêm. Có lẽ đây là một câu chuyện nhiều lớp nghĩa, trong khi bản thân tôi chưa đủ trải nghiệm, chưa đủ nhạy cảm để “thấm” được hết những giọt mưa đó, nên cái lạnh, cái mùi rừng đành theo gió lướt đi qua đầu ngón tay.

Nhưng kí ức về nó thì thực sự rất đặc biệt.

Xuyên suốt trong truyện nổi bật hai mạch tính cách gần như trái ngược của hai nhân vật Bường và Ngọc. Bường cục cằn, thô lỗ, lưu manh và sống có phần thủ đoạn. Còn Ngọc là kiểu công tử trí thức, nhưng hơn là việc học hành, vẫn luôn ôm trong tim một mối tình đau đáu. Cả hai trong một toán thợ xẻ do Bường cầm đầu, làm việc trên lâm trường kiếm sống. Họ đi, lao động, gặp gỡ và trải qua. Những tình nghĩa, rung động, hay cả những toan tính, lừa lọc với cái mà Bường gọi là “luật rừng” ấy, tất cả đều tồn tại ở cùng một chỗ, đan xen vào nhau mà họ không có lựa chọn về việc tiếp nhận hay từ chối bỏ đi. (Có lẽ điều này là đương nhiên rồi)

Khác nhau như vậy, nhưng nhìn kĩ thì họ lại rất giống nhau. Bỏ qua cái lưu manh đểu cáng, thì Bường cũng thương vợ thương con, cũng tình cảm bông đùa thương mến như ai (dù hắn có nghĩ đó chỉ là hình thức đi chăng nữa). Bỏ qua cái mềm yếu đa cảm quá đáng đối với một thằng đàn ông lao động chân tay, thì Ngọc cũng căm hận, tính toán, cũng cay nghiệt chẳng kém ai là mấy (có chăng chỉ là nếu Bường cay với người khác, thì Ngọc đắng với chính bản thân mình, với mối tình của mình). Có lẽ vì, trái tim họ đều xoay quanh một thứ gọi là tình yêu. Sự thật là chẳng ai có thể sống thiếu tình yêu cả. (Sống thiếu oxy thì chết ngay tức khắc, thiếu tình yêu thì lịm đi từng ngày) Dù Bường luôn luôn có vẻ bất cần thực dụng, rồi phản đối cái mộng tình yêu của Ngọc, nhưng chính Bường dường như cũng có một nỗi niềm với tình yêu. Về khía cạnh này chắc ai cũng có thể cảm nhận được, tôi không muốn sa đà vào đôi kính màu hồng của mình nữa nên dừng lại ở đây.

Cá nhân tôi có sự yêu thích hơn đối với Bường. Dù hắn lỗ mãng, sỗ sàng. Nhưng cái chân thật ở hắn khiến người ta có chút gì đó thương cảm, và xót xa nữa. (Đương nhiên là sau khi ghét những thứ hắn làm. Đúng, chỉ là cái cách hắn làm thôi) Con đường tù tội có thể đã tha hóa con người này đi ít nhiều, nhưng cũng có thể chỉ là nhào nặn lại một con người, vững vàng và cô quạnh hơn. Bường chẳng còn trông đợi gì nhiều ở những điều, những người xung quanh mình. Hi vọng là tiền đề cho thất vọng không sớm thì muộn. Ngọc thì nhận ra điều đó muộn hơn, hoặc là đã nhận ra từ đầu nhưng không muốn thừa nhận. Tình yêu cũng như nỗi ám ảnh của Ngọc đối với cô gái của mình, rồi sự xuất hiện của Quy – như cơn gió nhẹ đi qua miền kí ức đó, nhưng: “Người dưng ơi người dưng, một triệu người tôi gặp trong đời có ai là máu của máu tôi? Là thịt của thịt tôi? Có aị sẽ sống vì tôi và chết vì tôi? Có ai không? Có ai là hoàng đế của tôi? Cũng là thần tử của tôi? Ai là tâm phúc với tôi? Là hy vọng của tôi? Cũng là địa ngục của tôi?” – liệu sẽ làm vết thương dịu đi hay khơi thêm những khổ đau chưa từng rỉ máu? Đối với Ngọc, có cái đau chặt ngón chân thấu đến xương cốt hay cơn sốt mê man cũng khó làm mờ đi dòng suy nghĩ day dứt về cô gái đó. Những gì Ngọc tưởng tượng thấy, mơ thấy, tưởng rằng nhận ra trái tim mình đã trở thành lãnh đạm, nhưng thực tế vẫn chỉ là trốn tránh mà thôi.

Hoa ban bên đường vẫn trắng đến nao lòng.

Câu chuyện của những người thợ xẻ trong núi rừng, đổ mồ hôi, sôi nước mắt mưu sinh, cũng vì mưu sinh mà tính toán, phản bội, mà “kéo cưa lừa xẻ”. Đó là phần “con” bên cạnh mỗi phần “người” mà mỗi chúng ta vẫn thường giấu quá kĩ vì sợ nó sẽ bị thương tổn. Nhưng rồi thời gian sẽ đưa họ đi đến đâu? Có thực sự đến được cổng Thiên đường, hay cứ lạc mãi trên cầu vồng bảy sắc?

Mỗi người đều đ…

Mỗi người đều đến và đi chung một chặng đường trong cuộc đời người khác. Chẳng phải ngẫu nhiên mà 2 người gặp lại nhau, nhưng cũng đủ để dù đó không phải chặng đường cuối, cũng là chặng đường mang đến ít nhiều hoài niệm trong đời.