The Rosie Project – Chap 2 part 3/3

Tên truyện: The Rosie Project – Dự án Rosie
Tác giả: Graeme Simsion

Chương 2 phần 3

Trong bữa ăn, bà đưa ra một khẳng định bất ngờ: “Don, cậu sẽ trở thành một người chồng tuyệt vời.”

Trong giây lát tôi chợt khựng lại, điều đó quá trái ngược với những trải nghiệm bị phụ nữ đá của tôi. Rồi tôi kể cho bà nghe sự thật – những nỗ lực tôi đã từng làm để tìm kiếm một nửa của mình, bắt đầu từ lúc còn nhỏ tôi đã hình dung mình sẽ lớn lên rồi kết hôn thế nào, cho đến khi kết thúc bằng từ bỏ bởi mọi thứ đều chứng minh rằng tôi không phù hợp với việc đó.

Nhưng quan điểm của bà ấy rất đơn giản: luôn có ai đó dành cho ai đó. Về mặt số liệu thì quan điểm đó khá đúng. Nhưng không may, khả năng tôi có thể tìm được ai đó của mình lại quá nhỏ. Dù sao nó cũng gây một chút xáo trộn trong đầu tôi, vì thực sự bài toán nào cũng phải có cách giải chứ.

Trong hai lần sinh nhật tiếp theo của bà, tôi đều lặp lại việc tặng hoa. Kết quả không được kịch tính như lần đầu, nhưng tôi cũng mua cả quà nữa – sách về di truyền học – khiến bà có vẻ rất vui. Bà nói rằng sinh nhật luôn là ngày bà thích nhất trong năm. Đối với một đứa trẻ thì tôi có thể hiều được, vì chúng thích những món quà, nhưng tôi không ngờ một người lớn cũng nghĩ như vậy.

Chín mươi ba ngày sau bữa tối sinh nhật thứ ba, chúng tôi đi xe đến viện dưỡng lão, nói chuyện về những tài liệu di truyền mà Daphne vừa đọc hôm trước, và rõ ràng là bà ấy đã quên mất vài điểm quan trọng. Đây không phải lần đầu trong mấy tuần gần đây trí nhớ của bà gặp trục trặc, tôi ngay lập tức tổng hợp lại và đánh giá chức năng nhận thức của bà. Chẩn đoán được đưa ra là bệnh Alzheimer.

Khả năng trí tuệ của Daphne xấu đi nhanh trông thấy, và chúng tôi không thể tiếp tục trò chuyện về di truyền được nữa. Nhưng chúng tôi vẫn ăn tối cùng nhau và cùng nhau đến viện dưỡng lão. Giờ đây Daphne chủ yếu nói về chuyện ngày xưa, về chồng và gia đình bà, qua đó tôi có thể mường tượng được một cách khái quát về cuộc sống hôn nhân. Bà vẫn khẳng định rằng tôi sẽ tìm được một đối tượng phù hợp để tận hưởng hạnh phúc giống như bà đã làm được.

Một ngày, Daphne hỏi: “Khi nào lại đến sinh nhật tôi nhỉ?”, và tôi hiểu ra rằng bà đã mất phương hướng về ngày tháng. Tôi quyết định thực hiện một lời nói dối có thể chấp nhận được để bà ấy được hạnh phúc nhất có thể. Vấn đề là kiếm đâu ra hoa thụy hương trái mùa, nhưng tôi đã thành công không ngờ. Tôi có biết đến một nhà di truyền học đang nghiên cứu thay đổi và mở rộng mùa nở hoa của thực vật cho mục đích thương mại. Anh ta có thể cung cấp cho tôi đủ thụy hương, nhờ thế tôi và Daphne đã có một bữa tiệc sinh nhật vui vẻ. Tôi cứ thế lặp lại việc mua hoa mỗi khi bà ấy hỏi về ngày sinh nhật.

Thế rồi cũng đến lúc Daphne phải vào ở cùng chồng bà trong viện dưỡng lão, và, vì trí nhớ của bà mỗi ngày một tệ hơn, nên chúng tôi tổ chức sinh nhật thường xuyên hơn, cho đến khi việc đó diễn ra hằng ngày. Mua hoa thường xuyên nên tôi có được thẻ khách hàng thân thiết. Nếu tính theo số ngày sinh nhật thì Daphne đã lên đến 207 tuổi khi bà ấy bắt đầu không nhận ra tôi, và 319 tuổi khi bà không nhận ra cả thụy hương nữa. Tôi cũng bỏ việc đến thăm.

**

Tôi không mong chờ gì vào việc liên lạc lại với Julie. Như thông thường, suy đoán của tôi về hành vi con người lại trật lất. Hai ngày sau bài diễn thuyết, điện thoại của tôi đột nhiên báo có số lạ gọi đến lúc 3:37 chiều. Julie đã để lại tin nhắn kêu tôi gọi lại, chắc là do tôi để quên thứ đồ gì đó.

Tôi lại sai tiếp. Cô muốn tiếp tục thảo luận về hội chứng Asperger. Tôi thấy hài lòng khi khởi đầu của mình lại có sức ảnh hưởng như vậy. Cô gợi ý rằng chúng tôi có thể nói chuyện trong bữa tối, nơi không lý tưởng để bàn luận hiệu quả cho lắm, nhưng, vì tôi thường ăn tối một mình nên sẽ dễ dàng sắp xếp thời gian. Những chuyện bên lề cũng là một vấn đề.

“Cô có hứng thú đặc biệt với chủ đề nào không?”

“Ồ”, cô nói, “tôi nghĩ chúng ta cứ nói những chuyện bình thường đã… để hiểu thêm về nhau hơn.”

Thật là lan man. “Ít nhất tôi cũng cần một chút định hướng về chủ đề chính chứ. Trong những điều tôi đã nói cô thấy thú vị nhất ở điểm nào?”

“Ồ… tôi nghĩ chắc là chuyện kiểm tra máy tính ở Đan Mạch.”

“Kiểm tra ứng dụng máy tính.” Chắc chắn tôi cần nghiên cứu thêm. “Vậy cô muốn biết điều gì?”

“Tôi thắc mắc không biết họ đã tìm ra những người đó như thế nào. Phần lớn người trưởng thành bị hội chứng Asperger không biết là mình bị.”

Câu hỏi hay. Nếu cứ phỏng vấn bừa khắp nơi thì khả năng tìm ra những ứng viên mang hội chứng với tỷ lệ ước tính dưới 0.3 phần trăm này đúng là bằng 0.

Tôi nói liều: “Tôi đoán họ dùng một bảng hỏi làm công cụ phân loại chính”. Chưa nói hết câu nhưng một ngọn đèn đã sáng lên trong đầu tôi – đương nhiên không phải đèn nghĩa đen.

Một bảng hỏi! Giải pháp chính là đây. Một công cụ được xây dựng có mục đích rõ ràng, khoa học , kết hợp những thông tin mới nhất để loại bỏ ra những kẻ phung phí thời gian, vô tổ chức, phân biệt được kem, khó chịu khi người ta mới nhìn-chứ-chưa-làm-gì, nhà quan sát pha lê, nhà chiêm tinh về cung hoàng đạo, con nghiện thời trang, cuồng tín, ăn chay, mê thể thao, nhà sáng-tạo-học, hút thuốc, mù khoa học, nhà vi lượng đồng căn[1], chuyên gia bỏ về, chuyên gia lý tưởng hóa, bạn đôi hoàn hảo, hoặc, một cách thực tế ra, có thể tạo nên một danh sách ứng viên ngắn mà chấp nhận được.

“Don?” Là Julie, cô ấy vẫn đang chờ. “Anh muốn gặp nhau khi nào?”

Nhưng mọi thứ đã thay đổi. Thứ tự ưu tiên đã đảo lộn.

“Không được rồi”, tôi nói. “Tôi đã kín lịch.”

Tôi sẽ cần tất cả chỗ thời gian trống cho dự án mới.

Dự án Vợ.

[1] Phương pháp trị bệnh bằng cách pha loãng các chất tự nhiên để tạo ra cho người khỏe mạnh những triệu chứng giống như của căn bệnh đang cần chữa

The Rosie Project – Chap 2 part 2/3

Tên truyện: The Rosie Project (Dự án Rosie)
Tác giả: Graeme Simsion

Chương 2 phần 2

Khi tôi thu dọn laptop, Julie phì cười.

“Chúa ơi”, cô nói, “chắc tôi cần uống chút gì đó.”

Tôi không hiểu tại sao cô ta phải nói điều đó với một người mình vừa quen biết chưa đầy bốn mươi sáu phút. Thực ra tôi cũng có kế hoạch tận hưởng chút đồ uống có cồn khi về nhà nhưng chẳng có lí do gì để nói với Julie cả.

Cô tiếp tục: “Anh biết đấy, chúng tôi chưa bao giờ dùng từ đó. Aspy. Chúng tôi không muốn họ nghĩ đó là tên câu lạc bộ hay gì đó hay ho.” Cái người được trả lương để trợ giúp và khuyến khích lại gây thêm ấn tượng tiêu cực với tôi.

“Như là đồng tính luyến ái ý hả?” tôi nói.

“Chính xác”, Julie nói. “nhưng cái này thì khác. Nếu họ không thay đổi, họ sẽ không có được những mối quan hệ thực sự – họ sẽ không bao giờ tìm được một nửa.” Đó là một luận điểm không tồi, tôi hoàn toàn có thể hiểu được, đặc biệt khi đối chiếu với khó khăn của chính mình. Nhưng Julie đổi chủ đề. “Anh nói rằng có nhiều thứ có ích khác – mà họ có thể làm tốt hơn những người… không-aspy? Đương nhiên trừ việc giết mấy đứa trẻ ra.”

“Tất nhiên.” Tôi tự hỏi tại sao một người có liên quan đến giáo dục đối với người không bình thường lại không nhận thức được giá trị và tiềm năng thị trường của những cái không bình thường đó. “Có một công ty ở Đan Mạch tuyển những Aspy cho việc kiểm tra các ứng dụng máy tính.”

“Vậy mà tôi không biết đấy”, Julie nói. “Anh thực sự đã cho tôi một cái nhìn mới.” Cô nhìn tôi một lúc. “Anh có thời gian chứ?” Và đặt tay cô lên vai tôi.

Tôi bất giác rùng mình. Một sự động chạm không đúng lúc. Nếu tôi làm thế với một người phụ nữ thì chắc chắn sẽ có vấn đề, không may lại bị kết tội quấy rối tình dục, tiêu tan sự nghiệp. Tất nhiên khi đó chẳng có ai lại đi chỉ trích cô ta cả.

“Tiếc quá, tôi có kế hoạch khác rồi.”

“Không linh động được sao?”

“Tất nhiên là không.” Khó khăn lắm mới bù lại được thời gian bị mất, tôi chả dại gì ném cuộc đời mình vào mớ bòng bong lần nữa.

**

Trước khi gặp Gene và Claudia tôi có hai người bạn khác. Đầu tiên là chị gái tôi. Dù là giáo viên dạy toán, nhưng chị có rất ít hứng thú với lĩnh vực đó. Vì chị sống gần nên hay ghé thăm tôi hai lần một tuần hoặc đôi khi đột ngột không báo trước. Chúng tôi sẽ ăn cùng nhau và nói chuyện trên trời dưới bể, như là chuyện những người họ hàng, hay bạn bè đồng nghiệp. Mỗi tháng chúng tôi lại lái xe đến Shepparton vào tối chủ nhật và ăn tối cùng gia đình. Chị tôi vẫn còn độc thân, chắc vì chị hay xấu hổ và không được cuốn hút cho lắm. Vì nhiều bệnh tật và không được chăm sóc y tế hợp lý, chị đã chết.

Người thứ hai là Daphne, người làm bạn với tôi cũng trong khoảng thời gian cùng với Gene và Claudia. Bà chuyển vào căn hộ ở tầng trên sau khi chồng bà được đưa vào viện dưỡng lão vì chứng mất trí nhớ. Do tật ở đầu gối, lại thêm bệnh béo phì, bà không thể bước quá vài bước, nhưng bà rất thông minh và tôi thường đến thăm bà. Bà không có bằng cấp chính thức nào cả, chỉ ở nhà làm nội trợ truyền thống. Tôi xem đó là một sự lãng phí tài năng nghiêm trọng – đặc biệt là khi con cái bà không giúp lại được gì. Bà rất tò mò về công việc của tôi, thế là chúng tôi cùng bắt đầu Dự án dạy về Di truyền học cho Daphne, khiến cả hai đều cảm thấy hứng thú.

Bà bắt đầu ăn đến ăn tối với tôi thường xuyên hơn, cũng vì nấu một bữa cho hai người thì có lợi ích kinh tế nhiều hơn là một. Mỗi chủ nhật vào ba giờ chiều, chúng tôi sẽ đi thăm chồng bà ở viện dưỡng lão, cách đó 7.3km. Tôi có thể kết hợp việc đẩy xe lăn 14.6 km với những câu chuyện thú vị về di truyền. Tôi sẽ đọc sách khi bà nói chuyện với chồng, người mà năng lực nhận thức tuy khó đoán biết nhưng chắc chắn là ở mức thấp.

Daphne được đặt tên theo tên loài thụy hương nở hoa vào tháng sinh của bà, 28 tháng 8. Mỗi dịp sinh nhật, chồng bà đều tặng hoa thụy hương, và đối với bà hành động ấy thật là lãng mạn. Bà phàn nàn rằng sinh nhật sắp tới sẽ là lần đầu tiên trong suốt năm mươi sáu năm mà mình không được nhận món quà đó. Điều này đơn giản thôi, khi tôi đẩy xe đưa bà đến ăn tối mừng sinh nhật lần thứ bảy mươi tám, tôi sẽ mua tặng bà ấy một chút hoa.

Bà ngay lập tức nhận ra mùi hương của nó và bắt đầu khóc. Tôi nghĩ mình đã phạm phải một sai lầm tồi tệ, nhưng bà giải thích rằng những giọt nước mắt đó chỉ là vì bà quá vui mà thôi. Bà cũng rất ấn tượng với chiếc bánh socola mà tôi làm, nhưng không đến mức khóc.

Trong bữa ăn, bà đưa ra một khẳng định bất ngờ: “Don, cậu sẽ trở thành một người chồng tuyệt vời.”

Trong giây lát tôi chợt khựng lại, điều đó quá trái ngược với những trải nghiệm bị phụ nữ đá của tôi. Rồi tôi kể cho bà nghe sự thật – những nỗ lực tôi đã từng làm để tìm kiếm một nửa của mình, bắt đầu từ lúc còn nhỏ tôi đã hình dung mình sẽ lớn lên rồi kết hôn thế nào, cho đến khi kết thúc bằng từ bỏ bởi mọi thứ đều chứng minh rằng tôi không phù hợp với việc đó.