The Rosie Project – chap 1 part 3/3

Tên truyện: The Rosie Project

Tác giả: Graeme Simsion

Chương I phần cuối

“Hẳn cô là Julie”, tôi nói.

“Tôi giúp gì được cho anh?”

Thế chứ. Một người được việc. “Vâng, phiền cô đưa tôi dây nối VGA.”

“Ồ”, cô nói. “Vậy chắc anh là Giáo sư Tillman. Thật mừng vì anh đã đến.”

Cô chìa tay ra bắt nhưng tôi xua đi. “Đưa giúp tôi dây nối. Đã 6 giờ 58 rồi.”

“Anh cứ thoải mái đi”, cô nói. “Chúng tôi chưa bao giờ bắt đầu trước 7 giờ 15 cả. Anh muốn một tách cà phê chứ?”

Tại sao người ta lại coi thường thời gian của người khác như vậy? Giờ chắc chúng tôi phải nói chuyện một chút thôi. Đáng ra tôi đã có thể dùng mười lăm phút đó luyện tập aikido ở nhà.

Tôi đã chỉ tập trung vào Julie và cái màn hình ở trước phòng. Giờ nhìn quanh tôi nhận ra mình còn mười chín người khác nữa chưa để ý đến. Những đứa trẻ, phần lớn là con trai, đang ngồi gọn ở mấy bàn. Có lẽ chúng là nạn nhân của hội chứng Asperger. Phần lớn các tài liệu cũng tập trung vào trẻ em.

Dù gặp điều không may, nhưng có vẻ chúng đang sử dụng thời gian của mình hiệu quả hơn bố mẹ chúng, những người chỉ toàn nói chuyện phiếm. Hầu hết chúng đang xem các thiết bị máy tính. Tôi đoán chúng ở độ tuổi khoảng từ tám đến mười ba. Hi vọng chúng đều chú ý nghe giảng trong giờ Khoa học, vì tài liệu của tôi có nhắc đến kiến thức về hóa học hữu cơ và cấu trúc DNA.

Tôi chợt nhận ra là mình vẫn chưa trả lời câu hỏi cà phê.

“Không.”

Không may, vì sự gián đoạn của tôi nên Julie đã quên mất câu hỏi. “Không cà phê”, tôi giải thích. “Tôi không bao giờ uống cà phê sau 3 giờ 48 phút chiều. Nó sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ. Caffein có chu kỳ bán rã trong khoảng ba đến bốn giờ, nên thật vô trách nhiệm khi mời cà phê vào bảy giờ tối, trừ khi người ta có ý định thức đến sau nửa đêm. Như vậy một người có công việc thông thường sẽ không được ngủ đủ.” Tôi chỉ đang cố tận dụng thời gian chờ bằng cách cung cấp những lời khuyên hữu ích, nhưng hình như cô ta thích mấy chuyện tầm phào hơn thì phải.

“Gene không sao chứ?” cô hỏi. Rõ ràng là một cách nói khác của mẫu câu thông dụng nhất trong giao tiếp, “Bạn có khỏe không?”

“Cậu ta khỏe, cảm ơn cô”, tôi nói, chuyển đổi câu trả lời cho phù hợp với địa vị ngôi thứ ba.

“Ồ, tôi tưởng anh ấy ốm.”

“Ngoại trừ việc thừa sáu cân ra thì Gene đang ở trong tình trạng sức khỏe rất tốt. Sáng nay chúng tôi còn đi chạy. Tối nay cậu ta có hẹn, và nếu bị ốm thì đã không hẹn hò gì được rồi.”

Julie có vẻ không mấy ấn tượng và, dựa vào phản ứng của cô ta sau đó, tôi nhận ra rằng chắc Gene đã nói dối cô nàng về lí do tại sao cậu ta không thể thuyết trình. Nói dối như vậy có lẽ vì muốn bảo vệ Julie khỏi cảm giác rằng bài giảng này của cô ta không quan trọng gì với Gene, cũng là cái cớ hợp lý để đưa một người ít uy tín hơn đến thay thế nữa. Thật khó có thể nắm bắt một tình huống phức tạp bao gồm sự lừa dối và phản ứng cảm xúc của người khác như thế, rồi lại phải bịa ra lời nói dối hợp lí hơn, tất cả trong khoảnh khắc người kia đang đợi bạn trả lời. Nhưng đó chính xác là những gì người ta muốn bạn có thể làm được.

Thế rồi tôi cũng kết nối xong máy tính và bắt đầu, muộn mất mười tám phút. Tôi sẽ phải nói nhanh hơn bốn mươi ba phần trăm để kết thúc đúng vào lúc tám giờ – một mục tiêu hầu như không tưởng. Vì thế tất nhiên chúng tôi sẽ kết thúc muộn, và lịch trình buổi tối còn lại của tôi cũng sẽ đi tong.

Preview chap II

Những cánh tay giơ lên khắp phòng.

Julie như sắp nhảy dựng lên khi tôi nói tiếp. “Một khẩu súng giảm thanh. Kẻ thù đang đến gần hơn. Chúng sẽ giết tất cả các bạn. Bạn làm gì đây? Đứa trẻ vẫn đang khóc…”

Bọn trẻ không ngồi yên được nữa. Một đứa nói: “Bắn đứa trẻ đi”, và rồi tất cả chúng cùng hét lên: “Bắn đứa trẻ, bắn đứa trẻ.”

Cậu bé vừa hỏi câu về gen lúc trước thốt lên: “Hãy bắn kẻ thù”, rồi người khác nói: “Phục kích chúng.”

Nhanh chóng nhiều phương án được đưa ra.

“Dùng đứa trẻ làm mồi nhử.”

“Chúng ta có bao nhiêu khẩu súng chứ?”

“Bịt miệng nó lại.”

“Không có không khí thì nó sống được bao lâu?”

Như tôi dự đoán, tất cả các ý kiến đều đến từ những đứa trẻ đang “phải chịu” hội chứng Asperger. Bố mẹ chúng không đưa ra được một phương án nào; một số còn cố gắng ngăn cản sự sáng tạo của con mình.

Advertisements

The Rosie Project – Chap 1 part 2/3

Tên truyện: The Rosie Project
Tác giả: Graeme Simsion

Chương I phần 2

Chúng tôi gặp mặt ở một nhà hàng Thái. Các nhà hàng là những bãi mìn đối với mấy cái giao tiếp xã hội, và trong những tình huống này tôi luôn không tránh khỏi lo lắng. Nhưng chúng tôi đã có khởi đầu tốt đẹp khi cả hai đều đến chính xác lúc bảy giờ như lịch hẹn. Từ đầu mà không thống nhất thì chả nên phí thời gian làm gì.

Tôi sống sót qua bữa tối mà không bị cô ấy chỉ trích vì sai lầm nào. Rất khó để tạo ra một cuộc hội thoại trong khi phải cân nhắc xem bạn có đang đặt mắt vào đúng chỗ trên người đối phương hay không nhưng tôi đã khóa chặt cái nhìn của mình ở đôi mắt đeo kính của cô ấy, theo lời Gene khuyên. Điều đó dẫn đến vài sai sót với việc ăn uống, nhưng hình như cô ấy không để ý. Đổi lại, chúng tôi đã có cuộc thảo luận bổ ích về các thuật toán mô phỏng. Cô ấy thật là thú vị! Tôi đã nhìn thấy một tương lai lâu dài ở đây.

Người bồi bàn mang thực đơn tráng miệng ra và Elizabeth nói: “Tôi không thích đồ tráng miệng châu Á cho lắm.”

Đây gần như là một sự tổng kết không công bằng do trải nghiệm ít ỏi của cô ấy, và có lẽ tôi phải nhận ra đó là một dấu hiệu cảnh báo mới đúng. Nhưng nó lại khiến tôi có cơ hội nảy ra một ý tưởng sáng tạo.

“Chúng ta có thể mua kem trên đường đi.”

“Tuyệt. Nếu họ có vị mơ thì tốt.”

Tôi đồ rằng mình đã làm tốt cho đến lúc đó, và không bận tâm gì đến cái lựa chọn vị mơ kia. Nhưng tôi đã lầm. Quầy bán kem có rất nhiều vị khác nhau, nhưng vị mơ thì đã cạn kiệt. Tôi gọi một ốc quế socola ớt kèm cam thảo cho mình rồi hỏi Elizabeth xem cô ấy có lựa chọn thứ hai nào không.

“Nếu họ không có vị mơ thì thôi.”

Thật không thể tin được. Kem nào ăn chẳng gần như nhau, vì cái lạnh ảnh hưởng đến vị giác mà. Đối với các vị trái cây thì điều này lại càng đúng. Tôi gợi ý cô ấy có thể chọn vị xoài.

“Không, cảm ơn anh, tôi ổn.”

Tôi liền giải thích lý thuyết về vị giác bị lạnh. Tôi dự đoán rằng nếu mình mua một kem xoài đào thì cô ấy cũng không thể phân biệt được. Và, mở rộng ra, đối với vị mơ cũng sẽ thế thôi.

“Chúng hoàn toàn khác nhau”, cô ấy nói. “Nếu anh không thể phân biệt được xoài và đào, thì đó là vấn đề của anh.”

Giờ chúng tôi đã có một chút bất đồng có thể giải quyết đơn giản bằng thực nghiệm. Tôi gọi mỗi loại một kem cỡ nhỏ. Nhưng khi người phục vụ làm xong, tôi quay ra định bảo Elizabeth hãy nhắm mắt lại để thử, thì cô ấy đã đi rồi. “Hợp lý” thế là quá đủ. Quá đủ cả cho “nhà khoa học” máy tính nữa.

Về sau, Claudia nói rằng đáng ra tôi nên từ bỏ việc thử nghiệm trước khi Elizabeth bỏ đi. Thì rõ ràng là thế. Nhưng chính xác là từ lúc nào? Dấu hiệu là gì? Có những điểm tinh tế mà tôi không thể nhìn thấy được. Nhưng tôi cũng không nhìn ra được là tại sao sự nhạy cảm trước những gợi ý mơ hồ về hương vị kem lại phải là điều kiện tiên quyết để trở thành một nửa của ai đó. Cũng có lý khi giả sử có thể một vài phụ nữ không yêu cầu điều này. Nhưng không may, việc tìm ra họ chẳng có mảy may hi vọng nào cả.

Thảm họa Kem Mơ đã lấy đi của tôi một buổi tối trong đời, và chỉ được bồi thường lại bằng mấy cái thông tin về mô hình thuật toán.

Hai buổi trưa là đủ để tôi nghiên cứu và chuẩn bị bài giảng về hội chứng Asperger, không cần phải hi sinh chút dinh dưỡng gì, nhờ có Wi-fi sẵn trong tiệm cà phê của thư viện y khoa. Trước đây tôi chưa từng có kiến thức về rối loạn phổ tự kỷ, vì nó nằm ngoài chuyên ngành của tôi. Vì thế chủ đề này rất hấp dẫn. Tôi sẽ có thể tập trung vào phương diện di truyền học của hội chứng, điều tương đối mới mẻ đối với người nghe. Phần lớn bệnh tật đều có vài căn nguyên liên quan đến DNA, dù trong nhiều trường hợp chúng tôi vẫn chưa tìm ra được cụ thể. Công việc của chính tôi cũng tập trung vào khuynh hướng di truyền của bệnh xơ gan. Phần lớn thời gian làm việc của tôi dành cho việc chuốc say lũ chuột.

Như lẽ thường, sách vở và tài liệu nghiên cứu sẽ mô tả về triệu chứng của hội chứng Asperger, từ đó tôi đưa ra một kết luận tạm thời rằng phần lớn chúng đơn thuần chỉ là các chức năng phong phú của não bộ bị trầm trọng hóa thành bệnh lý do không phù hợp với chuẩn mực xã hội – những chuẩn mực đã được xây dựng nên – cái chỉ phản ánh những cấu hình người phổ biến nhất chứ không phản ánh tất cả.

Bài giảng được lên lịch vào bảy giờ tối tại một trường ở vùng ngoại ô. Tôi ước chừng mất khoảng mười hai phút đi xe đạp, và thêm ba phút nữa khởi động máy tính để kết nối với máy chiếu.

Tôi đến nơi lúc 6 giờ 57, sau khi đã để Eva, cô giúp việc váy ngắn, vào căn hộ của mình hai mươi bảy phút trước. Có chính xác là hai mươi lăm người đang đứng lẫn lộn ở cửa và trước phòng học, nhưng tôi ngay lập tức nhận ra Julie, người tổ chức, theo như mô tả của Gene: “tóc vàng ngực khủng”. Thực ra, ngực cô ta chỉ gấp rưỡi tỉ lệ bình thường so với cân nặng cơ thể, và khó mà trở thành một dấu hiệu nhận biết được. Chính cách chọn trang phục có vẻ phù hợp với một buổi tối tháng Một nóng bỏng thế kia mới đáng nói hơn.

Có vẻ tôi tốn khá nhiều thời gian để xác nhận danh tính cô nàng, nên cô ta bắt đầu nhìn tôi lạ lẫm.

The Rosie Project – Chap 1 part 1/3

Tên truyện: The Rosie Project
Tác giả: Graeme Simsion

Chương I – phần 1

Có lẽ tôi đã tìm ra giải pháp cho vấn đề Vợ. Nhìn lại thì, cũng giống như nhiều bước đột phá trong khoa học, câu trả lời thực ra đã rõ ràng ngay từ đầu. Nhưng nếu không nhờ một loạt những sự kiện không báo trước, chẳng có vẻ gì là tôi sẽ khám phá ra nó cả.

Loạt sự kiện đó bắt đầu khi Gene tha thiết muốn tôi giảng thay bài giảng về hội chứng Asperger1[1] mà trước đó cậu ta đã tự nhận làm. Sắp xếp thời gian trở thành một vấn đề. Việc chuẩn bị thì có thể tranh thủ vào buổi trưa, nhưng tối hôm đó tôi đã lên lịch dành ra chín mươi tư phút lau chùi nhà tắm. Đến đây tôi phải đối mặt với ba sự lựa chọn, mà trong cả ba chẳng có cái nào thoải mái cả.

  1. Lau chùi nhà tắm sau bài giảng, cái này sẽ dẫn đến thiếu ngủ và hậu quả là giảm hiệu năng cả thể chất lẫn tinh thần.
  2. Lùi lại việc dọn dẹp sang thứ Ba, nếu thế sẽ phải chịu cảnh tám tiếng đồng hồ nhà tắm mất vệ sinh và nguy cơ bệnh tật tiềm ẩn.
  3. Từ chối bài giảng và làm sứt mẻ tình bạn với Gene.

Tôi trình bày tình cảnh tiến thoái lưỡng nan cho Gene nghe, quả nhiên cậu ta có phương án dự trữ.

“Don, tôi sẽ thuê người lau chùi nhà tắm cho cậu.”

Tôi lại phải giải thích với Gene – lần nữa – rằng tất cả những người dọn dẹp thuê, bao gồm cả khả năng là người phụ nữ Hungary mặc váy ngắn đó, đều mắc lỗi. Người phụ nữ váy ngắn từng giúp việc cho Gene đã biến mất sau khi có một vài vấn đề với Gene và Claudia.

“Tôi sẽ cho cậu số của Eva. Miễn đừng nhắc đến tên tôi.”

“Nếu cô ta hỏi thì sao? Tôi biết trả lời thế nào mà không nhắc đến cậu?”

“Cứ nói là cậu liên lạc vì biết cô ta là người duy nhất có thể làm được việc. Còn nếu cô ta nhắc đến tôi, đừng nói gì cả.”

Đây là một kết quả tuyệt vời, và một minh chứng cho khả năng giải quyết các vấn đề xã hội của Gene. Eva sẽ vui vẻ khi năng lực được công nhận và biết đâu cô lại thích hợp cho một vị trí lâu dài, giúp tôi giải phóng trung bình ba trăm mười sáu phút mỗi tuần trong thời gian biểu thì sao.

Việc giảng bài của Gene gặp trục trặc là vì cậu ta chớp cơ hội được lên giường với một học viên người Chilê vừa mới đến Melbourne để dự hội thảo. Gene có một “dự án” lên giường với phụ nữ ở càng nhiều nước khác nhau càng tốt. Là một giáo sư ngành tâm lý, cậu ta đặc biệt thích thú với sức quyến rũ giới tính của con người, và tin rằng nó chủ yếu do gen quyết định.

Niềm tin đó cũng phù hợp với nền tảng của Gene là một nhà di truyền học. Sáu mươi tám ngày sau khi Gene thuê tôi với vai trò nghiên cứu sinh bậc sau tiến sĩ, cậu ta đã được lên làm Trưởng khoa Tâm lý, một sự bổ nhiệm đầy tranh cãi nhằm thành lập trường đại học với tư cách một người Úc dẫn đầu trong cách mạng Tâm lý học, rồi làm tăng tiếng tăm của nó.

Trong quãng thời gian đồng thời làm việc ở khoa Di truyền học, những thảo luận thú vị giữa chúng tôi vẫn tiếp tục sau khi cậu ta thay đổi chức vị. Chỉ riêng điều đó thôi cũng đã khiến tôi hài lòng về mối quan hệ này, nhưng Gene còn mời tôi về nhà ăn tối và thực hiện những cử chỉ tình bạn khác, thành ra chúng tôi có một mối quan hệ khá thân thiết. Claudia, vợ cậu ta, một nhà tâm lý học lâm sàng, giờ cũng là bạn của tôi. Tôi một lúc có được cả hai người.

Gene và Claudia một thời gian đã giúp đỡ tôi với vấn đề Vợ. Rủi thay, cách tiếp cận của họ lại dựa vào mô hình hẹn hò truyền thống, thứ mà tôi đã từ bỏ trước đó vì khả năng thành công hoàn toàn không cân xứng với nỗ lực và những trải nghiệm tồi tệ mà bạn phải trải qua. Tôi, ba mươi chín tuổi, cao ráo, cân đối và thông minh, với một địa vị xã hội và mức thu nhập phó giáo sư trên trung bình. Về lý mà nói, tôi có sức hấp dẫn với rất nhiều loại phụ nữ. Trong vương quốc động vật, hẳn tôi sẽ rất thành công trên con đường tái sản xuất sức lao động.
https://sunfollowerr.wordpress.com

Nhưng, không hiểu sao điểm nào đó ở tôi khiến phụ nữ thấy không hấp dẫn. Tôi chưa bao giờ cảm thấy dễ kết bạn, và dường như những thiếu sót gây ra vấn đề đó cũng ảnh hưởng luôn cả đến nỗ lực của tôi trong các mối quan hệ lãng mạn. Thảm họa Kem Mơ là một ví dụ điển hình.

Claudia giới thiệu tôi cho một trong số nhiều người bạn của cô ấy. Elizabeth là một nhà khoa học máy tính thông minh, với vấn đề tầm nhìn đã được giải quyết hoàn hảo bằng một cái kính. Tôi nói đến kính bởi vì Claudia đã cho tôi xem một bức ảnh, và hỏi rằng như vậy có sao không. Một câu hỏi không thể tin được! Từ một nhà tâm lý học! Khi đánh giá xem Elizabeth có phù hợp trở thành một nửa tiềm năng – người giúp ta trau dồi trí tuệ, người làm mọi thứ cùng ta, thậm chí có thể sinh con với ta –  mối quan tâm đầu tiên của Claudia lại là phản ứng của tôi với cách cô ấy chọn gọng kính, điều mà có khi cũng chẳng phải do cô ấy mà là do sự tư vấn của một chuyên viên đo mắt nào đó. Tôi phải sống trong cái thế giới như vậy sao. Thế rồi Claudia nói với tôi, ngữ điệu trầm trọng: “Cô ấy có những ý kiến rất kiên quyết.”

“Nhưng chúng hợp lý chứ?”

“Chắc là thế,” Claudia nói.

Hoàn hảo. Cô ấy nói thế như thể đang miêu tả chính tôi vậy.

[1] Hội chứng rối loạn tự kỷ: một dạng hội chứng bệnh rối loạn về sự phát triển thường gặp ở trẻ em gây ra kỹ năng xã hội kém, nhưng cũng có trường hợp trẻ có tố chất vượt trội bất thường về một lĩnh vực.