The Rosie Project – chap 7 part 3/3 (translation suspended)

Tên truyện: Dự án Rosie (The Rosie Project)
Tác giả: Graeme Simsion
Update mỗi thứ 2 – 6 hàng tuần
Đọc từ đầu: https://sunfollowerr.wordpress.com/2014/10/11/11102014-du-an-rosie-chuong-i-phan-1/
[Thông báo]: Vì truyện đã được xuất bản tại Việt Nam, nên mình sẽ dừng việc dịch truyện từ chương 8 (hết chương 7). Cảm ơn bạn đã theo dõi và hẹn gặp trong những truyện tiếp theo.

Chương 7 phần 3

Cô đưa cho tôi lá rong biển ép và cá khô. Tôi yêu cầu dầu macca[1], muối biển và cối xay tiêu từ ngăn nhu yếu phẩm.

“Rượu gạo Trung Quốc”, tôi nói thêm. “Sau đó là rượu.”

“Tất nhiên rồi”, Rosie nói.

Cô đưa tôi chai rượu, rồi nhìn vào những chai khác ở khu vực đồ uống chứa cồn. Tôi mua rượu thành từng nửa-chai.

“Vậy, thứ Ba nào anh cũng nấu bữa ăn thế này, đúng không?”

“Đúng.” Tôi đã liệt kê ra tám lợi ích lớn của Hệ thống Bữa ăn Chuẩn hóa.

  1. Không cần sưu tầm sách công thức nấu ăn.
  2. Danh sách mua sắm tiêu chuẩn – nâng cao hiệu quả mua sắm.
  3. Lãng phí gần như bằng không – không có gì trong tủ lạnh hay tủ đồ ăn bị bỏ trừ khi cần dùng cho mấy cái công thức nấu ăn.
  4. Kế hoạch ăn kiêng được thực hiện tốt và dinh dưỡng lại cân bằng.
  5. Không phí thời gian nghĩ xem tối nay ăn gì.
  6. Không phạm lỗi, không bị những bất ngờ tiêu cực.
  7. Đồ ăn ngon, cao cấp hơn phần lớn nhà hàng với mức giá rẻ hơn nhiều (xem điều 3).
  8. Khối lượng ý thức tối thiểu.

“Khối lượng ý thức?”

“Quy trình nấu ăn đã nằm hết trong đầu tôi rồi, thực tế không cần ý thức để tâm lắm.”

“Giống như khi đi xe đạp.”

“Đúng vậy.”

“Anh có thể làm tôm hùm mà không cần suy nghĩ à?”

“Sa-lát tôm hùm, xoài và lê với trứng cá bay bọc wasabi[2] và rong biển rán giòn cộng với hành chiên trang trí. Đúng vậy. Công đoạn hiện tại đang là lọc xương chim cút. Cái này vẫn cần có ý thức.”

Rosie cười to. Nó khiến tôi nhớ lại kí ức những ngày đi học. Những kí ức đẹp.

Trong khi tôi lấy được nguyên liệu thêm để trang trí từ trong tủ lạnh, Rosie lướt qua tôi với hai nửa chai rượu vang chablis[3] và đặt chúng vào trong ngăn đông lạnh cùng với mấy con tôm.

“Có vẻ như bữa tối của chúng ta đã ngừng bò lổm ngổm rồi.”

“Để chắc chúng chết hẳn cần thêm chút thời gian nữa”, tôi nói.

“Thật không may, Sự cố Áo khoác đã làm gián đoạn kế hoạch chuẩn bị. Mọi thời gian sẽ cần tính toán lại.” Tôi nhận ra rằng đáng ra tôi nên cho lũ tôm vào ngăn lạnh ngay khi chúng tôi về đến nhà, nhưng não bộ tôi đã quá tải bởi những vấn đề gây nên do sự hiện diện của Rosie. Tôi bước tới bảng trắng và bắt đầu viết lên đó thời gian tính toán lại. Còn Rosie đang kiểm tra nguyên liệu.

“Anh đã định ăn hết tất cả chỗ này một mình sao?”

Tôi đã không xem lại Hệ thống Bữa ăn Chuẩn hóa kể từ khi Daphne ra đi, và giờ tôi ăn salad tôm một mình vào mỗi Thứ Ba, bỏ rượu đi để bù cho lượng calo hấp thụ vào trong.

“Nhiêu đây đủ cho hai người”, tôi nói. “Thực đơn không thể giảm xuống được. Cô không thể mua mỗi nửa thân con tôm.” Tôi đã cố tình nói phần cuối hơi pha trò một chút, và Rosie phản ứng bằng việc bật cười.Tôi lại có giây phút thoải mái không ngờ nữa khi đang tính toán lại thời gian.

Rosie lại làm gián đoạn. “Nếu anh đang trong lịch trình bình thường thì bây giờ sẽ là mấy giờ?”

“6 giờ 38 tối”

Đồng hồ trên lò đã hiển thị 9 giờ tối. Rosie tìm ra chỗ điều khiển và bắt đầu điều chỉnh giờ. Tôi nhận ra cô ấy đang làm gì. Một giải pháp hoàn hảo. Khi cô kết thúc, đồng hồ đã hiện 6 giờ 38. Không cần tính toán lại nữa. Tôi chúc mừng cho suy nghĩ của cô. “Cô đã tạo ra một múi giờ mới rồi. Bữa tối sẽ bắt đầu vào lúc 8 giờ 55 – múi giờ của Rosie.”

“Vấn đề làm toán thôi mà”, cô nói.

Lời bình phẩm của cô cho tôi một cơ hội tiến đến một câu hỏi khác của Dự án Vợ. “Cô thấy toán học có khó không?”

Cô cười. “Đó chỉ là một trong số những phần khó nhất của công việc tôi làm thôi. Khiến tôi phát điên.”

Nếu như môn số học về hóa đơn quán bar và nhà hàng đơn giản mà đã vượt quá khả năng của cô, thì thật khó có thể tưởng tượng được làm thế nào chúng tôi lại có thể có những cuộc nói chuyện có ý nghĩa.

“Anh giấu cái mở nút chai đâu rồi?” cô hỏi.

“Rượu không có trong danh sách của thứ Ba.”

“M* nó chứ”, Rosie nói.

Phản ứng của Rosie cũng logic thôi. Tôi đã chỉ định ăn tối một mình. Đây là bước cuối cùng trong kế hoạch “bỏ rơi” buổi tối.

Tôi thông báo sự thay đổi. “Nhưng thời gian đã được xác định lại rồi. Các quy tắc trước đó không áp dụng nữa. Đồ uống cồn vì thế sẽ được khui trong Múi giờ Rosie.”

[1] Quả óc chó

[2] Sơn Quỳ, hay cải ngựa Nhật Bản: một loại rau thuộc họ cải, rễ có vị cay cực mạnh dùng để làm gia vị

[3] Rượu vang nguyên chất ở miền Đông nước Pháp

Advertisements

The Rosie Project – chap 7 part 1/3

Tên truyện: Dự án Rosie (The Rosie Project)
Tác giả: Graeme Simsion
Update mỗi thứ 2 – 6 hàng tuần
Đọc từ đầu: https://sunfollowerr.wordpress.com/2014/10/11/11102014-du-an-rosie-chuong-i-phan-1/
[Thông báo]: Vì truyện đã được xuất bản tại Việt Nam, nên mình sẽ dừng việc dịch truyện từ chương 8 (hết chương 7). Cảm ơn bạn đã theo dõi và hẹn gặp trong những truyện tiếp theo.

Chương 7 phần 1

“Chà, Quý ngài Ngăn Nắp. Sao mà đến tranh trên tường cũng không có lấy một cái?”

Tôi chưa có vị khách nào đến thăm kể từ khi Daphne chuyển ra khỏi tòa nhà. Tôi biết là mình chỉ cần để thêm một bộ đĩa và dao nĩa ra thôi. Nhưng buổi tối hôm đó đã đủ căng thẳng rồi, và mọi hưng phấn gây ra bởi chất adrenaline[1] cũng đã bốc hơi ngay sau sự cố Áo Khoác, ít nhất là đối với tôi. Còn Rosie thì dường như lúc nào cũng ở trong trạng thái buồn vui thất thường.

Chúng tôi đang ở trong khu vực phòng khách, chỗ nối liền vào nhà bếp.

“Bởi vì sau một thời gian tôi sẽ không để ý đến chúng nữa. Bộ não người được kết nối để tập trung vào sự khác biệt trong môi trường của nó – nên nó có thể nhanh chóng nhận ra một con thú ăn thịt. Nếu tôi treo tranh hoặc những vật dụng trang trí khác, tôi sẽ chỉ nhận thấy sự hiện diện của chúng trong vài ngày rồi bộ não của tôi sẽ phớt lờ chúng đi thôi. Nếu muốn xem các tác phẩm nghệ thuật, tôi sẽ đến phòng trưng bày. Những bức tranh ở đó có chất lượng cao hơn, và chi phí tổng thể theo thời gian cũng ít hơn so với giá mua những tấm áp phích rẻ tiền.” Thực ra, tôi đã không đến một phòng tranh nghệ thuật kể từ ngày mùng mười tháng năm, ba năm trước. Nhưng thông tin này sẽ khơi dậy tranh cãi và tôi thấy không có lí do gì để chia sẻ nó với Rosie cũng như mở mang thêm những khía cạnh khác trong đời sống riêng tư của tôi ra để chất vấn.

Rosie đã bỏ qua vấn đề đó và giờ đang xem bộ sưu tập CD của tôi. Công việc điều tra này đang dần trở nên phiền hà. Bữa tối đã muộn rồi thì chớ.

“Anh thực sự yêu thích Bach nhỉ”, cô nói. Đó là một kết luận dễ hiểu, khi bộ sưu tập CD của tôi chỉ gồm toàn các tác phẩm của nhà soạn nhạc này. Nhưng không đúng.

“Tôi quyết định tập trung vào Bach sau khi đọc Gödel, Escher, Bach của Douglas Hofstadter. Không may là tôi không phát triển được nhiều lắm. Tôi không nghĩ rằng trí óc tôi làm việc đủ nhanh để giải mã những thông điệp trong âm nhạc.”

“Chứ không phải anh nghe vì thích thú sao?”

Cuộc hội thoại bắt đầu nghe giống như trong bữa tối trước đây với Daphne và tôi không trả lời.

“Anh có một chiếc iPhone chứ?” cô nói.

“Tất nhiên, nhưng tôi không dùng nó cho âm nhạc. Tôi download podcast[2].”

“Để tôi đoán nhé – là về di truyền học.”

“Khoa học nói chung thôi.”

Tôi vào bếp bắt đầu chuẩn bị bữa tối và Rosie đi theo, sau dừng lại trước thời gian biểu của tôi trên bảng trắng.

“Chà”, cô lặp lại. Phản ứng như vậy cũng hoàn toàn có thể đoán được. Tôi thắc mắc liệu cô ấy sẽ phản ứng thế nào trước DNA hay thuyết tiến hóa.

Tôi bắt đầu sắp xếp lại rau củ từ trong tủ lạnh. “Để tôi giúp”, cô nói. “Tôi có thể thái hoặc gì đó.” Khả năng ở đây là một người ít kinh nghiệm và không quen thuộc với công thức nấu ăn cũng có thể làm công việc cắt thái đơn giản. Sau khi cô đã nói là không thể nấu ăn dù là để sống, tôi đã mường tượng ra cả đống hành và mảnh rau thơm bị trộn lẫn lộn vào nhau.

“Không cần trợ giúp gì đâu”, tôi nói. “Đọc sách cũng được.”

Tôi nhìn Rosie đi đến giá sách, nhanh chóng nghiên cứu qua nội dung, rồi đi sang chỗ khác. Có lẽ cô đã sử dụng “phần mềm” của IBM chứ không phải của Mac, dù có rất nhiều thứ mà cả hai đều đọc được.

Hệ thống âm thanh có một cổng iPod tôi hay dùng để bật podcast trong khi nấu ăn. Rosie cắm điện thoại của cô vào, và âm nhạc bắt đầu phát ra từ loa. Dù không to lắm, nhưng tôi chắc chắn rằng nếu tôi bật podcast của mình lên khi đến chơi nhà ai đó mà chưa được phép, thì đó sẽ bị buộc tội như một lỗi giao tiếp xã hội. Còn một cách vô cùng chắc chắn thì, tôi đã phạm chính xác sai lầm đó ở một bữa tiệc tối bốn năm sáu mươi bảy ngày trước.

Rosie tiếp tục công cuộc khám phá của cô, giống một con vật trong một môi trường sống mới, mà cũng đúng là hoàn cảnh của cô bây giờ. Cô mở rèm cuộn[3] và kéo chúng lên, làm một chút bụi bay ra. Tôi tự thấy bản thân mình khá cầu toàn trong việc lau chùi, nhưng tôi không cần mở rèm cuộn và vì thế có thể còn bụi ở những chỗ không chạm tới được. Đằng sau rèm là cửa, Rosie bỏ chốt và mở cửa.

[1] Một loại hoocmon do cơ thể tiết ra khi một người ở trạng thái cảm xúc mạnh (căng thẳng, hưng phấn, tức giận,…) khiến cho tim đập nhanh hơn và cung cấp cho người đó nhiều năng lượng hơn. Được dùng để chữa một số bệnh về tim.

[2] Kết hợp giữa 2 từ iPod và broadcast (phát sóng), dùng để chỉ những bản tin phát thanh qua internet.

[3] Loại rèm gồm các thanh nằm ngang (bằng gỗ hoặc nhựa) có thể kéo lên xuống hoặc thay đổi độ nghiêng.

The Rosie Project – chap 6 part 1/3

Tên truyện: Dự án Rosie (The Rosie Project)
Tác giả: Graeme Simsion
Update mỗi thứ 2 – 6 hàng tuần
Đọc từ đầu: https://sunfollowerr.wordpress.com/2014/10/11/11102014-du-an-rosie-chuong-i-phan-1/
[Thông báo]: Vì truyện đã được xuất bản tại Việt Nam, nên mình sẽ dừng việc dịch truyện từ chương 8 (hết chương 7). Cảm ơn bạn đã theo dõi và hẹn gặp trong những truyện tiếp theo.

Chương 6 phần 1

Khoảng hai tiếng sau khi Gene rời văn phòng với toàn bộ bảng hỏi của Dự án Vợ, có một tiếng gõ cửa. Tôi đang cân những bài luận của sinh viên, một hoạt động không phải là bị cấm, nhưng tôi vẫn nghi ngờ vì đâu có ai biết tôi đang làm điều này. Đó là một phần trong dự án giảm tải công sức đánh giá của giảng viên, bằng cách tìm kiếm những thông số dễ dàng đo đếm bao gồm mục lục, hoặc trang bìa viết tay so với đánh máy, yếu tố có thể cung cấp thông tin về chất lượng không kém gì quá trình đọc chán ngắt toàn bộ luận văn.

Tôi đóng ngăn kéo dưới hộc bàn vừa lúc cánh cửa mở ra và nhìn lên thấy một người phụ nữ mà tôi không biết là ai đang đứng ở lối vào. Tôi ước chừng cô khoảng ba mươi tuổi với BMI hai mươi.

“Giáo sư Tillman?”

Một câu hỏi không mấy khôn ngoan, khi tên tôi đã lù lù ở trên cửa.

“Đúng là tôi.”

“Giáo sư Barrow giới thiệu tôi đến gặp anh.”

Tôi ngạc nhiên trước năng suất của Gene, và nhìn người phụ nữ cẩn thận hơn khi cô tiến gần đến bàn làm việc của tôi. Không có dấu hiệu nào của sự không phù hợp. Tôi không nhận ra lớp trang điểm nào. Đường nét cơ thể và màu da của cô cho thấy sự dẻo dai khỏe khoắn. Cô đeo cặp kính gọng dày khiến tôi nhớ đến kí ức tồi tệ về Cô nàng Kem Mơ, mặc một chiếc áo đen dài bị sờn đôi chỗ, một chiếc thắt lưng đen với phần dây xích kim loại. Thật may là câu hỏi về đồ trang sức đã được bỏ đi vì cô ấy đang đeo một đôi khuyên tai kim loại lớn và một chiếc dây chuyền có mặt khá đặc biệt quanh cổ.

Dù tôi thường không chú ý đến cách ăn mặc, nhưng cách ăn mặc của cô dường như không phù hợp với trông đợi của tôi về một học giả hoặc chuyên gia giỏi và không phù hợp với cả thời tiết mùa hè nữa. Tôi chỉ có thể đoán rằng cô có công ty riêng hoặc đang trong kì nghỉ, và, không chịu bó buộc bởi quy tắc công sở, đã chọn quần áo khá vô ý. Chắc là như vậy.

Được một lúc kể từ khi một trong hai chúng tôi cất lời và tôi nhận ra là đã đến lượt mình. Từ chiếc mặt dây chuyền, tôi nhìn lên và nhớ lại hướng dẫn của Gene.

“Chúng ta ăn tối tối nay nhé?”

Cô có vẻ ngạc nhiên trước câu hỏi của tôi khi trả lời: “Vâng, được thôi. Vậy chúng ta ăn tối nhé? Đến Le Gavroche và anh sẽ mời?”

“Được. Tôi sẽ đặt chỗ vào lúc 8 giờ.”

“Anh hài hước thật.”

Một câu trả lời lạ lùng. Tại sao tôi phải hài hước với người vừa mới gặp mặt chứ?

“Không. Tám giờ tối nay được chứ?”

“Để tôi nói thẳng nhé. Có phải anh đang mời tôi bữa tối ở Le Gavroche tối nay không?”

Không nói đến câu hỏi về tên tôi lúc đầu, tôi bắt đầu nghĩ rằng người phụ nữ này là thứ mà Gene sẽ gọi là “không phải cái tốt nhất trong kho”[1]. Tôi nghĩ đến chuyện rút lại lời mời, hoặc ít nhất là sử dụng kế hoãn binh nào đó cho đến khi có thể xem lại bảng hỏi của cô, nhưng không thể nghĩ ra cách cư xử nào chấp nhận được để làm điều này, nên đành xác nhận rằng cô đã giải thích đúng lời đề nghị của tôi. Cô quay người rời đi và tôi nhận ra rằng đến tên cô tôi còn không biết.

Tôi gọi ngay cho Gene. Lúc đầu cậu ta có vẻ ngạc nhiên, sau đó cười khoái chí. Có lẽ cậu ta không nghĩ tôi lại xử trí với “ứng viên” một cách “hiệu quả” như vậy.

“Tên cô ấy là Rosie”, cậu nói. “Và tôi chỉ nói cho cậu thế thôi. Chúc vui vẻ. Nhớ điều tôi dặn về sex đấy.”

Việc Gene không cung cấp thêm thông tin cho tôi thật không may, bởi một vấn đề đã phát sinh. Le Gavroche không có sẵn bàn vào thời điểm tôi chọn. Tôi đã cố gắng tìm kiếm hồ sơ của Rosie trên máy tính của mình, và lần này các bức ảnh đã có tác dụng. Người phụ nữ đến văn phòng của tôi hôm nay không giống bất cứ ứng viên nào có tên bắt đầu bằng “R”. Chắc cô ấy là một trong số những người trả lời trên giấy. Gene đã về và điện thoại thì tắt.

Tôi buộc phải đi tới một hành động không hẳn là bất hợp pháp, nhưng chắc chắn là phi đạo đức không chối vào đâu được. Tôi tự bào chữa dựa trên cái cớ rằng sẽ càng phi đạo đức hơn khi không thực hiện được lời hẹn với Rosie. Hệ thống trực tuyến của Le Gavroche có thiết lập những điều kiện thuận lợi cho khách VIP và tôi đã đặt một chỗ dưới tên Dean sau khi đăng nhập vào sử dụng phần mềm hack đơn giản.

Tôi đến nơi lúc 7 giờ 59 tối. Nhà hàng nằm trong một khách sạn lớn. Tôi xích xe đạp của mình ở phòng nghỉ, lúc đó ngoài trời đang mưa to. Thật may là trời không lạnh và chiếc áo khoác Gore-Tex[2] đã bảo vệ tôi một cách xuất sắc. Áo sơ mi của tôi bên trong thậm chí không ẩm một chút nào.

Một người đàn ông mặc đồng phục đến gần tôi. Anh ta chỉ ra chỗ chiếc xe đạp, nhưng tôi đã nói trước khi anh ta kịp phàn nàn.

“Tên tài khoản của tôi là Giáo sư Lawrence và tôi đã vào hệ thống các anh đặt chỗ lúc 5 giờ 11 phút chiều.”

Hóa ra người nhân viên không biết người tên là Dean, hoặc nghĩ rằng tôi là một Giáo sư Lawrence nào khác, vì anh ta chỉ kiểm tra màn hình một chút rồi gật đầu. Tôi khá ấn tượng với tốc độ của mình, dù giờ đã là 8 giờ 1 phút và không thấy Rosie bước vào. Có lẽ cô đã chọn B – sớm một chút và đã ngồi vào bàn rồi.

[1] “not the sharpest tool in the shed”: ý nói người không được thông minh cho lắm

[2] Công nghệ không thấm nước

The Rosie Project – Chap 3 part 1/3

Tên truyện: The Rosie Project (Dự án Rosie)
Tác giả: Graeme Simsion

Chương 3 phần 1

Sau khi nói chuyện với Julie, tôi ngay lập tức đến văn phòng của Gene ở khoa Tâm lý học, nhưng cậu ta không có ở đó. May là trợ lý riêng của cậu, Helena Xinh Đẹp, hay đúng hơn là Helena Phiền Phức, cũng vắng mặt nên tôi mới có thể xem nhật ký công việc của Gene. Nhờ đó tôi biết được rằng cậu ta đang có giờ giảng và sẽ kết thúc lúc 5 giờ chiều, sau đó rảnh đến 5 giờ 30 mới có cuộc hẹn. Hoàn hảo. Tôi chỉ cần giảm thời gian ở chỗ tập thể hình. Khoảng giờ trống đó là của tôi.

Sau buổi tập ở phòng thể hình, kết thúc bằng việc tắm rửa thay quần áo, tôi đi bộ đến hội trường hội thảo, và chờ ở khu dành cho nhân viên trước cửa vào. Dù đổ mồ hôi rất nhiều vì nóng và tập luyện, nhưng bù lại tôi đã được nạp năng lượng cả về thể chất và tinh thần. Ngay khi đồng hồ chỉ 5 giờ, tôi bước vào. Gene đứng dưới đèn chiếu trong hội trường tối, vẫn đang nói, không để ý đến thời gian, trả lời một câu hỏi về vấn đề quỹ. Việc tôi mở cửa khiến một chút ánh sáng lọt vào căn phòng, và tôi nhận ra giờ ánh mắt của những người nghe đang dồn cả vào tôi, chờ đợi.

“Hết giờ rồi”, tôi nói. “Tôi có hẹn với Gene.”

Mọi người bắt đầu đứng dậy, và tôi nhận ra Dean ở hàng ghế trước cùng với ba người khác mặc trang phục công sở. Tôi đoán rằng họ ở đó chỉ với cương vị những nhà cung cấp tài chính tiềm năng chứ chả phải có hứng thú gì với đề tài sức hấp dẫn giới tính của người cổ. Gene lúc nào cũng cố gắng kiếm thêm tiền để nghiên cứu, trong khi Dean đang liên tục đe dọa rằng sẽ thu nhỏ quy mô của các khoa Tâm lý và Di truyền học vì không có nguồn vốn phù hợp. Nhưng đó không phải là chuyện tôi muốn nhúng tay vào.

Gene nói trước hội trường: “Tôi nghĩ rằng Giáo sư Tillman đồng nghiệp của tôi đang có ý muốn chúng ta vào một dịp khác hãy bàn luận về vấn đề tài chính, một vấn đề quan trọng không kém công việc chuyên môn của chúng ta.” Tôi nhìn sang Dean và những người đi cùng cô. “Một lần nữa cảm ơn các bạn vì đã quan tâm đến nghiên cứu của tôi – cũng như của các bạn đồng nghiệp khác của tôi ở khoa Tâm lý học.” Một tràng pháo tay nổi lên. Có vẻ như sự can thiệp của tôi vừa đúng thời điểm.

Dean và đồng nghiệp của cô đi ngang qua tôi. “Xin lỗi vì lấn sang cuộc gặp của anh, Giáo sư Tillman. Tôi chắc chúng ta có thể tìm ra tiền ở đâu đấy thôi.” Đó là một tin tốt, nhưng giờ thì phiền thay, một đám đông đang vây quanh Gene. Một phụ nữ tóc đỏ với cả tá kim loại đính trên tai đang nói chuyện với cậu ta. Cô ta nói khá lớn tiếng.

“Tôi không thể tin được ngài lại sử dụng một nơi thảo luận chung để nói về vấn đề riêng của mình.”

“Dù sao cũng may mắn vì cô đã đến. Cô vừa thay  đổi một trong những cách nhìn của mình. Đó là điều trước hết đã.”

Trên gương mặt người phụ nữ biểu lộ rõ sự tức giận dù Gene đang mỉm cười.

“Dù ngài có nói đúng hay không, nhưng tác động của nó đến xã hội thì sao?”

Tôi đã ngạc nhiên với câu trả lời tiếp theo của Gene, không phải bởi ý định của cậu ta – cái này thì tôi đã quá quen rồi – mà bởi sự chuyển chủ đề quá ngọt. Gene có những kĩ năng giao thiệp xã hội ở trình độ mà tôi sẽ chẳng bao giờ đạt đến được.

“Nghe như một vấn đề người ta hay bàn luận trong tiệm cà phê vậy. Khi nào chúng ta đi uống cà phê nhé?”

“Xin lỗi”, cô gái nói. “Tôi còn nghiên cứu phải làm. Ngài biết đấy, tìm dẫn chứng thực tế.”

Tôi cố gắng chen vào nhưng đã bị một phụ nữ tóc vàng cao ráo chặn đằng trước, trong khi tôi không muốn đụng chạm cơ thể. Người phụ nữ nói giọng Na-uy.

“Giáo sư Barrow?” cô gọi, ý nhắc đến Gene. “Dù rất trân trọng, nhưng tôi nghĩ ngài đang hơi quá xem thường vị trí của nữ giới.”

“Nếu muốn bàn về triết lý đó, chúng ta cũng có thể nói ở tiệm cà phê”, Gene trả lời. “Tôi sẽ gặp cô ở quầy pha chế sau.”

The Rosie Project – Chap 2 part 3/3

Tên truyện: The Rosie Project – Dự án Rosie
Tác giả: Graeme Simsion

Chương 2 phần 3

Trong bữa ăn, bà đưa ra một khẳng định bất ngờ: “Don, cậu sẽ trở thành một người chồng tuyệt vời.”

Trong giây lát tôi chợt khựng lại, điều đó quá trái ngược với những trải nghiệm bị phụ nữ đá của tôi. Rồi tôi kể cho bà nghe sự thật – những nỗ lực tôi đã từng làm để tìm kiếm một nửa của mình, bắt đầu từ lúc còn nhỏ tôi đã hình dung mình sẽ lớn lên rồi kết hôn thế nào, cho đến khi kết thúc bằng từ bỏ bởi mọi thứ đều chứng minh rằng tôi không phù hợp với việc đó.

Nhưng quan điểm của bà ấy rất đơn giản: luôn có ai đó dành cho ai đó. Về mặt số liệu thì quan điểm đó khá đúng. Nhưng không may, khả năng tôi có thể tìm được ai đó của mình lại quá nhỏ. Dù sao nó cũng gây một chút xáo trộn trong đầu tôi, vì thực sự bài toán nào cũng phải có cách giải chứ.

Trong hai lần sinh nhật tiếp theo của bà, tôi đều lặp lại việc tặng hoa. Kết quả không được kịch tính như lần đầu, nhưng tôi cũng mua cả quà nữa – sách về di truyền học – khiến bà có vẻ rất vui. Bà nói rằng sinh nhật luôn là ngày bà thích nhất trong năm. Đối với một đứa trẻ thì tôi có thể hiều được, vì chúng thích những món quà, nhưng tôi không ngờ một người lớn cũng nghĩ như vậy.

Chín mươi ba ngày sau bữa tối sinh nhật thứ ba, chúng tôi đi xe đến viện dưỡng lão, nói chuyện về những tài liệu di truyền mà Daphne vừa đọc hôm trước, và rõ ràng là bà ấy đã quên mất vài điểm quan trọng. Đây không phải lần đầu trong mấy tuần gần đây trí nhớ của bà gặp trục trặc, tôi ngay lập tức tổng hợp lại và đánh giá chức năng nhận thức của bà. Chẩn đoán được đưa ra là bệnh Alzheimer.

Khả năng trí tuệ của Daphne xấu đi nhanh trông thấy, và chúng tôi không thể tiếp tục trò chuyện về di truyền được nữa. Nhưng chúng tôi vẫn ăn tối cùng nhau và cùng nhau đến viện dưỡng lão. Giờ đây Daphne chủ yếu nói về chuyện ngày xưa, về chồng và gia đình bà, qua đó tôi có thể mường tượng được một cách khái quát về cuộc sống hôn nhân. Bà vẫn khẳng định rằng tôi sẽ tìm được một đối tượng phù hợp để tận hưởng hạnh phúc giống như bà đã làm được.

Một ngày, Daphne hỏi: “Khi nào lại đến sinh nhật tôi nhỉ?”, và tôi hiểu ra rằng bà đã mất phương hướng về ngày tháng. Tôi quyết định thực hiện một lời nói dối có thể chấp nhận được để bà ấy được hạnh phúc nhất có thể. Vấn đề là kiếm đâu ra hoa thụy hương trái mùa, nhưng tôi đã thành công không ngờ. Tôi có biết đến một nhà di truyền học đang nghiên cứu thay đổi và mở rộng mùa nở hoa của thực vật cho mục đích thương mại. Anh ta có thể cung cấp cho tôi đủ thụy hương, nhờ thế tôi và Daphne đã có một bữa tiệc sinh nhật vui vẻ. Tôi cứ thế lặp lại việc mua hoa mỗi khi bà ấy hỏi về ngày sinh nhật.

Thế rồi cũng đến lúc Daphne phải vào ở cùng chồng bà trong viện dưỡng lão, và, vì trí nhớ của bà mỗi ngày một tệ hơn, nên chúng tôi tổ chức sinh nhật thường xuyên hơn, cho đến khi việc đó diễn ra hằng ngày. Mua hoa thường xuyên nên tôi có được thẻ khách hàng thân thiết. Nếu tính theo số ngày sinh nhật thì Daphne đã lên đến 207 tuổi khi bà ấy bắt đầu không nhận ra tôi, và 319 tuổi khi bà không nhận ra cả thụy hương nữa. Tôi cũng bỏ việc đến thăm.

**

Tôi không mong chờ gì vào việc liên lạc lại với Julie. Như thông thường, suy đoán của tôi về hành vi con người lại trật lất. Hai ngày sau bài diễn thuyết, điện thoại của tôi đột nhiên báo có số lạ gọi đến lúc 3:37 chiều. Julie đã để lại tin nhắn kêu tôi gọi lại, chắc là do tôi để quên thứ đồ gì đó.

Tôi lại sai tiếp. Cô muốn tiếp tục thảo luận về hội chứng Asperger. Tôi thấy hài lòng khi khởi đầu của mình lại có sức ảnh hưởng như vậy. Cô gợi ý rằng chúng tôi có thể nói chuyện trong bữa tối, nơi không lý tưởng để bàn luận hiệu quả cho lắm, nhưng, vì tôi thường ăn tối một mình nên sẽ dễ dàng sắp xếp thời gian. Những chuyện bên lề cũng là một vấn đề.

“Cô có hứng thú đặc biệt với chủ đề nào không?”

“Ồ”, cô nói, “tôi nghĩ chúng ta cứ nói những chuyện bình thường đã… để hiểu thêm về nhau hơn.”

Thật là lan man. “Ít nhất tôi cũng cần một chút định hướng về chủ đề chính chứ. Trong những điều tôi đã nói cô thấy thú vị nhất ở điểm nào?”

“Ồ… tôi nghĩ chắc là chuyện kiểm tra máy tính ở Đan Mạch.”

“Kiểm tra ứng dụng máy tính.” Chắc chắn tôi cần nghiên cứu thêm. “Vậy cô muốn biết điều gì?”

“Tôi thắc mắc không biết họ đã tìm ra những người đó như thế nào. Phần lớn người trưởng thành bị hội chứng Asperger không biết là mình bị.”

Câu hỏi hay. Nếu cứ phỏng vấn bừa khắp nơi thì khả năng tìm ra những ứng viên mang hội chứng với tỷ lệ ước tính dưới 0.3 phần trăm này đúng là bằng 0.

Tôi nói liều: “Tôi đoán họ dùng một bảng hỏi làm công cụ phân loại chính”. Chưa nói hết câu nhưng một ngọn đèn đã sáng lên trong đầu tôi – đương nhiên không phải đèn nghĩa đen.

Một bảng hỏi! Giải pháp chính là đây. Một công cụ được xây dựng có mục đích rõ ràng, khoa học , kết hợp những thông tin mới nhất để loại bỏ ra những kẻ phung phí thời gian, vô tổ chức, phân biệt được kem, khó chịu khi người ta mới nhìn-chứ-chưa-làm-gì, nhà quan sát pha lê, nhà chiêm tinh về cung hoàng đạo, con nghiện thời trang, cuồng tín, ăn chay, mê thể thao, nhà sáng-tạo-học, hút thuốc, mù khoa học, nhà vi lượng đồng căn[1], chuyên gia bỏ về, chuyên gia lý tưởng hóa, bạn đôi hoàn hảo, hoặc, một cách thực tế ra, có thể tạo nên một danh sách ứng viên ngắn mà chấp nhận được.

“Don?” Là Julie, cô ấy vẫn đang chờ. “Anh muốn gặp nhau khi nào?”

Nhưng mọi thứ đã thay đổi. Thứ tự ưu tiên đã đảo lộn.

“Không được rồi”, tôi nói. “Tôi đã kín lịch.”

Tôi sẽ cần tất cả chỗ thời gian trống cho dự án mới.

Dự án Vợ.

[1] Phương pháp trị bệnh bằng cách pha loãng các chất tự nhiên để tạo ra cho người khỏe mạnh những triệu chứng giống như của căn bệnh đang cần chữa