Người thợ may của Khair Khana – Chương 1 phần 3

Người thợ may của Khair Khana – Chương 1 phần 3

Tên/Title: The dressmaker of Khair Khana
Tác giả/Author: Gayle Tzemach Lemmon

Cập nhật:  Thứ 6 hàng tuần
Xem các phần khác và góp ý cho bản dịch tại đây

Chương 1 phần 3

Người mới đến và mọi thứ đổi thay

“Tôi không nghĩ thế”, bạn cô trả lời. “Tôi nghe trên radio nói họ đi đến đâu là cấm đoán đến đó, trường học và những thứ khác. Cả việc làm nữa. Trừ khi họ cho phép nếu không chúng ta sẽ chẳng thể rời khỏi nhà. Có lẽ họ chỉ ở đây vài tháng thôi…”

Kamila nhìn đăm đăm qua cửa sổ và cố gắng không để ý đến những cuộc trò chuyện xung quanh mình. Cô biết có thể cô gái kia nói đúng, nhưng cô không thể chịu nổi cái ý nghĩ về việc điều đó sẽ có nghĩa là gì đối với cô và bốn đứa em gái vẫn đang ở nhà. Cô nhìn theo người chủ những cửa hàng trên con phố bụi bặm đang dọn hàng như mọi khi, những hiệu ảnh, và những tiệm bánh. Cho đến bốn năm trở lại đây, lối vào các cửa hàng ở Kabul đã trở thành một cái phong vũ biểu[1] cho bạo lực trong ngày: khi các cánh cửa mở rộng có nghĩa là cuộc sống thường nhật vẫn sẽ tiếp diễn, dù cho có thỉnh thoảng bị chọc thủng bởi những phát tên lửa tầm xa. Nhưng khi cửa đóng vào giữa ban ngày, thì người Kabul biết rằng hiểm nguy đang cận kề và rằng, chính họ, tốt nhất là ghé vào những cửa tiệm trong nhà còn lại.

Chiếc xe buýt cũ kì cạch tiến về phía trước trong một hơi khói mù mịt và cuối cùng cũng đến điểm dừng của Kamila. Khair Khana, một vùng ngoại ô nhỏ phía Bắc Kabul, là nhà của một cộng đồng đông đảo người Tajik, nhóm dân tộc lớn thứ hai của Afghanistan. Như phần lớn gia đình Tajik khác, bố mẹ Kamila cũng đến từ phía Bắc. Phía Nam là nơi ở của người Pashtun[2] truyền thống. Bố của Kamila đã đưa gia đình đến Khair Khana trong chuyến đi nghĩa vụ cuối cùng trên cương vị một sĩ quan cấp cao của quân đội Afghan, nơi ông đã phục vụ cho tổ quốc hơn ba thập kỉ. Kabul, lúc đó trong suy nghĩ của ông, sẽ dành cho chín cô con gái của ông cơ hội học tập tốt nhất. Mà ông tin rằng, học tập chính là nhu cầu bức thiết của các con ông, gia đình ông, và tương lai đất nước ông.

Kamila vội vàng bước vào con phố bụi mù, giữ khăn quàng trước miệng để khỏi hít phải những muội than. Cô băng qua phía trước cửa hàng tạp hóa chật hẹp và xe gỗ chở rau của những người bán rong cà rốt và khoai tây. Với nụ cười trên môi, những cô dâu và chú rể ngập tràn trong hoa nhìn xuống cô từ trên một dãy ảnh cưới treo trên tường của một hiệu ảnh. Từ tiệm bánh tỏa ra một mùi hương ngon lành của bánh mì naan[3], theo sau đó là cửa hàng thịt, nơi những tảng thịt đỏ thẫm được treo trên những cái móc thép. Trên đường đi, Kamila nghe thấy hai người bán hàng đang buôn chuyện trong ngày. Giống như tất cả người Kabul còn ở lại thủ đô, những người này đã trưởng thành trong sự quen với việc các chế độ đến rồi lại đi, và họ rất nhạy bén đối với một sự sụp đổ tiềm tàng. Đầu tiên, một người đàn ông thấp bé với đầu hói và những nếp nhăn sâu, đang kể rằng em họ ông nói lực lượng của Massoud[4]  với những chiếc xe tải chất đầy đang lánh xa khỏi thủ đô. Người đàn ông còn lại lắc đầu ngờ vực.

“Chúng ta sẽ thấy rồi tiếp theo là điều gì”, ông ta nói. “Có lẽ mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn, Inshallah ạ. Nhưng tôi cũng không chắc.”

Chỉ huy Admad Shah Massoud là Bộ trưởng Bộ quốc phòng lúc bấy giờ và là một anh hùng quân đội người Tajik đến từ thung lũng Panjshir, không xa Parwan, quê nhà của gia đình Kamila là mấy. Trong những năm kháng chiến chống Nga, chính quyền Dr. Najibullah đã bỏ tù bố của Kamila vì nghi ngờ ông hỗ trợ cho Massoud, người được biết đến như “Sư tử vùng Panjshir” và là một trong những chiến binh Mujahideen nổi tiếng nhất. Sau khi Nga rút đi năm 1992, ông Sidiqi được trả tự do bởi lực lượng trung thành với Massoud, người giờ đang phục vụ cho chính phủ mới của Tổng thống Burhanuddin Rabbani. Ông Sidiqi đã đến làm việc với những người lính Massoud ở phía Bắc một thời gian, sau cùng quyết định nghỉ hưu ở Parwan, ngôi nhà thời trai trẻ, nơi mà ông yêu hơn bất cứ nơi nào trên thế giới này.

[1] Một dụng cụ đo gió và áp suất không khí, được dùng trong dự báo thời tiết. Ở đây ý nói đó là nơi chứng kiến hầu hết những gì diễn ra.

[2] Một dòng dõi của những chiến binh sống phần lớn ở Afghanistan và Pakistan. Bao gồm khoảng 60 bộ tộc, mỗi bộ tộc có lãnh thổ riêng.

[3] Một loại bánh truyền thống của Ấn Độ

[4] Ahmad Shah Massoud là một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự ở Afghanistan, một người chỉ huy quân sự quyền lực trong cuộn chiến chống sự Liên Xô từ năm 1979 đến năm 1989 và trong những năm sau chiến tranh.

Advertisements

The Rosie Project – chap 7 part 3/3 (translation suspended)

Tên truyện: Dự án Rosie (The Rosie Project)
Tác giả: Graeme Simsion
Update mỗi thứ 2 – 6 hàng tuần
Đọc từ đầu: https://sunfollowerr.wordpress.com/2014/10/11/11102014-du-an-rosie-chuong-i-phan-1/
[Thông báo]: Vì truyện đã được xuất bản tại Việt Nam, nên mình sẽ dừng việc dịch truyện từ chương 8 (hết chương 7). Cảm ơn bạn đã theo dõi và hẹn gặp trong những truyện tiếp theo.

Chương 7 phần 3

Cô đưa cho tôi lá rong biển ép và cá khô. Tôi yêu cầu dầu macca[1], muối biển và cối xay tiêu từ ngăn nhu yếu phẩm.

“Rượu gạo Trung Quốc”, tôi nói thêm. “Sau đó là rượu.”

“Tất nhiên rồi”, Rosie nói.

Cô đưa tôi chai rượu, rồi nhìn vào những chai khác ở khu vực đồ uống chứa cồn. Tôi mua rượu thành từng nửa-chai.

“Vậy, thứ Ba nào anh cũng nấu bữa ăn thế này, đúng không?”

“Đúng.” Tôi đã liệt kê ra tám lợi ích lớn của Hệ thống Bữa ăn Chuẩn hóa.

  1. Không cần sưu tầm sách công thức nấu ăn.
  2. Danh sách mua sắm tiêu chuẩn – nâng cao hiệu quả mua sắm.
  3. Lãng phí gần như bằng không – không có gì trong tủ lạnh hay tủ đồ ăn bị bỏ trừ khi cần dùng cho mấy cái công thức nấu ăn.
  4. Kế hoạch ăn kiêng được thực hiện tốt và dinh dưỡng lại cân bằng.
  5. Không phí thời gian nghĩ xem tối nay ăn gì.
  6. Không phạm lỗi, không bị những bất ngờ tiêu cực.
  7. Đồ ăn ngon, cao cấp hơn phần lớn nhà hàng với mức giá rẻ hơn nhiều (xem điều 3).
  8. Khối lượng ý thức tối thiểu.

“Khối lượng ý thức?”

“Quy trình nấu ăn đã nằm hết trong đầu tôi rồi, thực tế không cần ý thức để tâm lắm.”

“Giống như khi đi xe đạp.”

“Đúng vậy.”

“Anh có thể làm tôm hùm mà không cần suy nghĩ à?”

“Sa-lát tôm hùm, xoài và lê với trứng cá bay bọc wasabi[2] và rong biển rán giòn cộng với hành chiên trang trí. Đúng vậy. Công đoạn hiện tại đang là lọc xương chim cút. Cái này vẫn cần có ý thức.”

Rosie cười to. Nó khiến tôi nhớ lại kí ức những ngày đi học. Những kí ức đẹp.

Trong khi tôi lấy được nguyên liệu thêm để trang trí từ trong tủ lạnh, Rosie lướt qua tôi với hai nửa chai rượu vang chablis[3] và đặt chúng vào trong ngăn đông lạnh cùng với mấy con tôm.

“Có vẻ như bữa tối của chúng ta đã ngừng bò lổm ngổm rồi.”

“Để chắc chúng chết hẳn cần thêm chút thời gian nữa”, tôi nói.

“Thật không may, Sự cố Áo khoác đã làm gián đoạn kế hoạch chuẩn bị. Mọi thời gian sẽ cần tính toán lại.” Tôi nhận ra rằng đáng ra tôi nên cho lũ tôm vào ngăn lạnh ngay khi chúng tôi về đến nhà, nhưng não bộ tôi đã quá tải bởi những vấn đề gây nên do sự hiện diện của Rosie. Tôi bước tới bảng trắng và bắt đầu viết lên đó thời gian tính toán lại. Còn Rosie đang kiểm tra nguyên liệu.

“Anh đã định ăn hết tất cả chỗ này một mình sao?”

Tôi đã không xem lại Hệ thống Bữa ăn Chuẩn hóa kể từ khi Daphne ra đi, và giờ tôi ăn salad tôm một mình vào mỗi Thứ Ba, bỏ rượu đi để bù cho lượng calo hấp thụ vào trong.

“Nhiêu đây đủ cho hai người”, tôi nói. “Thực đơn không thể giảm xuống được. Cô không thể mua mỗi nửa thân con tôm.” Tôi đã cố tình nói phần cuối hơi pha trò một chút, và Rosie phản ứng bằng việc bật cười.Tôi lại có giây phút thoải mái không ngờ nữa khi đang tính toán lại thời gian.

Rosie lại làm gián đoạn. “Nếu anh đang trong lịch trình bình thường thì bây giờ sẽ là mấy giờ?”

“6 giờ 38 tối”

Đồng hồ trên lò đã hiển thị 9 giờ tối. Rosie tìm ra chỗ điều khiển và bắt đầu điều chỉnh giờ. Tôi nhận ra cô ấy đang làm gì. Một giải pháp hoàn hảo. Khi cô kết thúc, đồng hồ đã hiện 6 giờ 38. Không cần tính toán lại nữa. Tôi chúc mừng cho suy nghĩ của cô. “Cô đã tạo ra một múi giờ mới rồi. Bữa tối sẽ bắt đầu vào lúc 8 giờ 55 – múi giờ của Rosie.”

“Vấn đề làm toán thôi mà”, cô nói.

Lời bình phẩm của cô cho tôi một cơ hội tiến đến một câu hỏi khác của Dự án Vợ. “Cô thấy toán học có khó không?”

Cô cười. “Đó chỉ là một trong số những phần khó nhất của công việc tôi làm thôi. Khiến tôi phát điên.”

Nếu như môn số học về hóa đơn quán bar và nhà hàng đơn giản mà đã vượt quá khả năng của cô, thì thật khó có thể tưởng tượng được làm thế nào chúng tôi lại có thể có những cuộc nói chuyện có ý nghĩa.

“Anh giấu cái mở nút chai đâu rồi?” cô hỏi.

“Rượu không có trong danh sách của thứ Ba.”

“M* nó chứ”, Rosie nói.

Phản ứng của Rosie cũng logic thôi. Tôi đã chỉ định ăn tối một mình. Đây là bước cuối cùng trong kế hoạch “bỏ rơi” buổi tối.

Tôi thông báo sự thay đổi. “Nhưng thời gian đã được xác định lại rồi. Các quy tắc trước đó không áp dụng nữa. Đồ uống cồn vì thế sẽ được khui trong Múi giờ Rosie.”

[1] Quả óc chó

[2] Sơn Quỳ, hay cải ngựa Nhật Bản: một loại rau thuộc họ cải, rễ có vị cay cực mạnh dùng để làm gia vị

[3] Rượu vang nguyên chất ở miền Đông nước Pháp

The Rosie Project – chap 7 part 1/3

Tên truyện: Dự án Rosie (The Rosie Project)
Tác giả: Graeme Simsion
Update mỗi thứ 2 – 6 hàng tuần
Đọc từ đầu: https://sunfollowerr.wordpress.com/2014/10/11/11102014-du-an-rosie-chuong-i-phan-1/
[Thông báo]: Vì truyện đã được xuất bản tại Việt Nam, nên mình sẽ dừng việc dịch truyện từ chương 8 (hết chương 7). Cảm ơn bạn đã theo dõi và hẹn gặp trong những truyện tiếp theo.

Chương 7 phần 1

“Chà, Quý ngài Ngăn Nắp. Sao mà đến tranh trên tường cũng không có lấy một cái?”

Tôi chưa có vị khách nào đến thăm kể từ khi Daphne chuyển ra khỏi tòa nhà. Tôi biết là mình chỉ cần để thêm một bộ đĩa và dao nĩa ra thôi. Nhưng buổi tối hôm đó đã đủ căng thẳng rồi, và mọi hưng phấn gây ra bởi chất adrenaline[1] cũng đã bốc hơi ngay sau sự cố Áo Khoác, ít nhất là đối với tôi. Còn Rosie thì dường như lúc nào cũng ở trong trạng thái buồn vui thất thường.

Chúng tôi đang ở trong khu vực phòng khách, chỗ nối liền vào nhà bếp.

“Bởi vì sau một thời gian tôi sẽ không để ý đến chúng nữa. Bộ não người được kết nối để tập trung vào sự khác biệt trong môi trường của nó – nên nó có thể nhanh chóng nhận ra một con thú ăn thịt. Nếu tôi treo tranh hoặc những vật dụng trang trí khác, tôi sẽ chỉ nhận thấy sự hiện diện của chúng trong vài ngày rồi bộ não của tôi sẽ phớt lờ chúng đi thôi. Nếu muốn xem các tác phẩm nghệ thuật, tôi sẽ đến phòng trưng bày. Những bức tranh ở đó có chất lượng cao hơn, và chi phí tổng thể theo thời gian cũng ít hơn so với giá mua những tấm áp phích rẻ tiền.” Thực ra, tôi đã không đến một phòng tranh nghệ thuật kể từ ngày mùng mười tháng năm, ba năm trước. Nhưng thông tin này sẽ khơi dậy tranh cãi và tôi thấy không có lí do gì để chia sẻ nó với Rosie cũng như mở mang thêm những khía cạnh khác trong đời sống riêng tư của tôi ra để chất vấn.

Rosie đã bỏ qua vấn đề đó và giờ đang xem bộ sưu tập CD của tôi. Công việc điều tra này đang dần trở nên phiền hà. Bữa tối đã muộn rồi thì chớ.

“Anh thực sự yêu thích Bach nhỉ”, cô nói. Đó là một kết luận dễ hiểu, khi bộ sưu tập CD của tôi chỉ gồm toàn các tác phẩm của nhà soạn nhạc này. Nhưng không đúng.

“Tôi quyết định tập trung vào Bach sau khi đọc Gödel, Escher, Bach của Douglas Hofstadter. Không may là tôi không phát triển được nhiều lắm. Tôi không nghĩ rằng trí óc tôi làm việc đủ nhanh để giải mã những thông điệp trong âm nhạc.”

“Chứ không phải anh nghe vì thích thú sao?”

Cuộc hội thoại bắt đầu nghe giống như trong bữa tối trước đây với Daphne và tôi không trả lời.

“Anh có một chiếc iPhone chứ?” cô nói.

“Tất nhiên, nhưng tôi không dùng nó cho âm nhạc. Tôi download podcast[2].”

“Để tôi đoán nhé – là về di truyền học.”

“Khoa học nói chung thôi.”

Tôi vào bếp bắt đầu chuẩn bị bữa tối và Rosie đi theo, sau dừng lại trước thời gian biểu của tôi trên bảng trắng.

“Chà”, cô lặp lại. Phản ứng như vậy cũng hoàn toàn có thể đoán được. Tôi thắc mắc liệu cô ấy sẽ phản ứng thế nào trước DNA hay thuyết tiến hóa.

Tôi bắt đầu sắp xếp lại rau củ từ trong tủ lạnh. “Để tôi giúp”, cô nói. “Tôi có thể thái hoặc gì đó.” Khả năng ở đây là một người ít kinh nghiệm và không quen thuộc với công thức nấu ăn cũng có thể làm công việc cắt thái đơn giản. Sau khi cô đã nói là không thể nấu ăn dù là để sống, tôi đã mường tượng ra cả đống hành và mảnh rau thơm bị trộn lẫn lộn vào nhau.

“Không cần trợ giúp gì đâu”, tôi nói. “Đọc sách cũng được.”

Tôi nhìn Rosie đi đến giá sách, nhanh chóng nghiên cứu qua nội dung, rồi đi sang chỗ khác. Có lẽ cô đã sử dụng “phần mềm” của IBM chứ không phải của Mac, dù có rất nhiều thứ mà cả hai đều đọc được.

Hệ thống âm thanh có một cổng iPod tôi hay dùng để bật podcast trong khi nấu ăn. Rosie cắm điện thoại của cô vào, và âm nhạc bắt đầu phát ra từ loa. Dù không to lắm, nhưng tôi chắc chắn rằng nếu tôi bật podcast của mình lên khi đến chơi nhà ai đó mà chưa được phép, thì đó sẽ bị buộc tội như một lỗi giao tiếp xã hội. Còn một cách vô cùng chắc chắn thì, tôi đã phạm chính xác sai lầm đó ở một bữa tiệc tối bốn năm sáu mươi bảy ngày trước.

Rosie tiếp tục công cuộc khám phá của cô, giống một con vật trong một môi trường sống mới, mà cũng đúng là hoàn cảnh của cô bây giờ. Cô mở rèm cuộn[3] và kéo chúng lên, làm một chút bụi bay ra. Tôi tự thấy bản thân mình khá cầu toàn trong việc lau chùi, nhưng tôi không cần mở rèm cuộn và vì thế có thể còn bụi ở những chỗ không chạm tới được. Đằng sau rèm là cửa, Rosie bỏ chốt và mở cửa.

[1] Một loại hoocmon do cơ thể tiết ra khi một người ở trạng thái cảm xúc mạnh (căng thẳng, hưng phấn, tức giận,…) khiến cho tim đập nhanh hơn và cung cấp cho người đó nhiều năng lượng hơn. Được dùng để chữa một số bệnh về tim.

[2] Kết hợp giữa 2 từ iPod và broadcast (phát sóng), dùng để chỉ những bản tin phát thanh qua internet.

[3] Loại rèm gồm các thanh nằm ngang (bằng gỗ hoặc nhựa) có thể kéo lên xuống hoặc thay đổi độ nghiêng.

The Rosie Project – chap 6 part 3/3

Tên truyện: Dự án Rosie (The Rosie Project)
Tác giả: Graeme Simsion
Update mỗi thứ 2 – 6 hàng tuần
Đọc từ đầu: https://sunfollowerr.wordpress.com/2014/10/11/11102014-du-an-rosie-chuong-i-phan-1/
[Thông báo]: Vì truyện đã được xuất bản tại Việt Nam, nên mình sẽ dừng việc dịch truyện từ chương 8 (hết chương 7). Cảm ơn bạn đã theo dõi và hẹn gặp trong những truyện tiếp theo.

Chương 6 phần 3

Rose trả lời: “Phải. Tội nghiệp Jason. Lúc nào cũng là nạn nhân.” Giờ tôi đã có thể nhìn rõ cô. Cô mặc một chiếc váy đen không họa tiết, giày bốt đế dày và đeo nhiều trang sức bạc trên tay. Mái tóc đỏ của cô bông lên như mấy loài xương rồng mới nào đó. Tôi đã từng nghe từ “choáng ngợp” được dùng để miêu tả phụ nữ, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thực sự bị làm “choáng ngợp” bởi một người. Không chỉ bởi trang phục hay đồ trang sức hay bất cứ phẩm chất riêng lẻ nào của Rosie: mà đó là tất cả chúng cộng lại. Tôi không chắc có thể nói sự xuất hiện của cô là xinh đẹp một cách bình thường hay thậm chí có thể được chấp nhận bởi cái nhà hàng đã từ chối áo khoác của tôi hay không. “Choáng ngợp” là từ hoàn hảo cho nó. Nhưng những gì cô làm còn gây choáng hơn. Cô lấy điện thoại từ trong túi ra và chĩa về phía chúng tôi. Nó nháy lên hai lần. Áo Khoác định giành nó từ tay cô.

“Đừng có mơ”, Rosie nói. “Tôi sẽ có rất nhiều điều thú vị với mấy tấm ảnh này và những gã này sẽ không bao giờ đứng bảo vệ trước cánh cửa nào được nữa. Giáo sư dạy cho bảo kê một bài học.”

Rosie vừa nói thì một người đàn ông đội chiếc mũ đầu bếp xuất hiện. Ông ta trao đổi ngắn gọn với Áo Khoác và Rosie rồi, với căn cứ rằng chúng tôi sẽ được cho phép rời đi mà không chịu sự quấy rối nào thêm, Rosie bảo tôi thả những người tấn công ra. Tất cả chúng tôi đều đứng lên, và, để giữ đúng truyền thống, tôi cúi đầu, chìa tay ra với hai người đàn ông, những người mà tôi kết luận là nhân viên an ninh. Họ chỉ đang làm những gì họ được trả công để làm, và đã bị thương khi hoàn thành bổn phận. Có vẻ như họ không ngờ đến nghi thức trang trọng đó, nhưng rồi một người cười và bắt tay với tôi, sau đến người kia cũng vậy. Đó là một kết thúc có hậu, nhưng tôi không còn muốn ăn tối ở nhà hàng nữa.

Tôi lấy xe đạp ra và chúng tôi đi dạo trên phố. Tôi chờ đón cơn giận của Rosie trước sự cố đó, nhưng cô ấy chỉ cười. Tôi hỏi làm thế nào mà cô quen biết Áo Khoác.

“Tôi từng làm việc ở đó.”

“Cô chọn nhà hàng này vì đã quen thuộc với nó sao?”

“Anh nói vậy cũng được. Tôi đã muốn dính họ vào nhau.” Cô bắt đầu cười lớn. “Nhưng có lẽ không đến mức đó.”

Tôi nói rằng cách giải quyết của cô rất tuyệt vời.

“Tôi làm việc ở một quán bar”, cô nói. “Không chỉ là bar thông thường, là Hầu tước Queensbury đấy. Tôi va chạm với đàn ông để kiếm sống mà.”

Tôi chỉ ra rằng nếu cô đến đúng giờ thì bằng kĩ năng xã hội của mình cô đã có thể khiến việc bạo lực trở nên không cần thiết.

“Vậy thì thật vui khi tôi đến muộn. Đó là judo, đúng không?”

“Aikido.” Khi chúng tôi sang đường, tôi đổi bên dắt xe đạp sang bên kia, giữa Rosie và tôi. “Tôi cũng thành thạo karate, nhưng aikido lúc đó thích hợp hơn.”

“Không thể nào. Học mấy thứ đó mất cả đời ấy chứ, không phải sao?”

“Tôi bắt đầu lúc 7 tuổi.”

“Anh tập luyện với tần suất thế nào?”

“Ba lần mỗi tuần, trừ trường hợp ốm, ngày nghỉ của cả nước hoặc những lúc ra nước ngoài dự hội thảo.”

“Điều gì khiến anh bắt đầu vậy?” Rosie hỏi.

Tôi chỉ vào cặp kính.

“Sự trả thù của những kẻ lập dị”, cô nói.

“Đây là lần đầu tiên tôi cần đến nó để tự vệ kể từ khi còn đi học. Thường tôi tập chủ yếu để duy trì vóc dáng thôi.” Tôi đã thư giãn hơn một chút, và Rosie đã tạo cơ hội cho tôi lái sang một câu hỏi trong bảng hỏi Dự án Vợ. “Cô có thường xuyên tập luyện không?”

“Còn phụ thuộc xem anh gọi thế nào là thường xuyên.” Cô cười. “Tôi là người thiếu cân đối nhất quả đất.”

“Thể dục thể thao vô cùng quan trọng để duy trì sức khỏe.”

“Bố tôi cũng nói vậy. Ông là một huấn luyện viên cá nhân. Đặc biệt đối với trường hợp của tôi. Ông đã tặng tôi thẻ thành viên gym làm quà sinh nhật. Ở phòng gym của ông ấy. Ông ấy có ý tưởng rằng chúng tôi nên tập luyện ba môn phối hợp[1] cùng nhau.”

“Chắc chắn là cô nên làm theo lời khuyên của ông ấy.”, tôi nói.

“Chết tiệt, tôi đã gần ba mươi rồi. Tôi đâu cần bố bảo tôi phải làm gì.” Cô đổi chủ đề. “Nghe này, tôi đói rồi. Đi ăn pizza nhé.”

Tôi chưa chuẩn bị tinh thần vào nhà hàng sau “chấn thương” lúc trước. Tôi nói với cô là có ý muốn quay lại với kế hoạch ban đầu cho buổi tối, đó là nấu ăn tại nhà.

“Có đủ cho hai người chứ?” cô hỏi. “Anh vẫn nợ tôi bữa tối đấy.”

Cô nói đúng nhưng đã có quá nhiều sự kiện không theo kế hoạch trong ngày của tôi rồi.

“Thôi nào. Tôi sẽ không chỉ trỏ khả năng nấu nướng của anh đâu. Tôi cũng chẳng nấu ăn để sống được.”

Tôi không quan tâm đến việc khả năng nấu nướng của mình bị phê phán. Nhưng việc cô ấy thiếu kĩ năng nấu ăn đã là lỗi thứ ba mắc phải trong bảng hỏi của Dự án Vợ, sau lỗi đến muộn và lỗi không thích thể thao. Cũng rất có thể có lỗi thứ tư nữa: công việc bồi bàn hay phục vụ quán bar của cô không có vẻ gì là sẽ đảm bảo cho tri thức của cô cả. Không còn lí do nào để tiếp tục.

Trước khi tôi kịp phản đối, Rosie đã vẫy được một chiếc taxi có chỗ vừa cho chiếc xe đạp của tôi.

“Anh sống ở đâu?” cô hỏi.

[1] một bộ môn thi đấu thể thao 3 môn phối hợp: chạy bộ, đạp xe và bơi

The Rosie Project – chap 6 part 2/3

Tên truyện: Dự án Rosie (The Rosie Project)
Tác giả: Graeme Simsion
Update mỗi thứ 2 – 6 hàng tuần
Đọc từ đầu: https://sunfollowerr.wordpress.com/2014/10/11/11102014-du-an-rosie-chuong-i-phan-1/
[Thông báo]: Vì truyện đã được xuất bản tại Việt Nam, nên mình sẽ dừng việc dịch truyện từ chương 8 (hết chương 7). Cảm ơn bạn đã theo dõi và hẹn gặp trong những truyện tiếp theo.

Chương 6 phần 2

“Tôi xin lỗi, thưa ngài, nhưng chúng tôi có một quy định về trang phục”, người nhân viên nói.

Tôi đã biết điều này, nó được ghi chú in nghiêng trên trang web: Các quý ông được yêu cầu mặc áo khoác[1].

“Không áo khoác, không phục vụ, đúng không?”

“Chính xác, thưa ngài.”

Tôi còn có thể nói gì về loại quy định này nữa đây? Tôi đã chuẩn bị để mặc chiếc áo khoác của mình trong suốt bữa ăn. Nhà hàng có thể sẽ có điều hòa với nhiệt độ thích hợp với yêu cầu.

Tôi tiếp tục bước về phía cửa vào, nhưng người nhân viên chặn lại. “Xin lỗi ngài. Có lẽ tôi nói chưa rõ. Ngài cần phải mặc một chiếc áo khoác.”

“Tôi đang mặc một chiếc áo khoác.”

“Tôi e rằng chúng tôi cần một thứ gì đó trịnh trọng hơn một chút, thưa ngài.”

Nhân viên khách sạn chỉ vào áo vét của mình như một ví dụ. Để bảo vệ quan điểm của mình, tôi đưa ra trong cuốn Từ điển Tiếng Anh Oxford (Phiên bản rút gọn, in lần 2) định nghĩa “áo khoác”: 1(a) Một trang phục ngoài cho phần trên cơ thể.

Tôi cũng chỉ ra rằng từ “áo khoác” xuất hiện trên hướng dẫn bảo quản của chiếc áo Gore-Tex tương đối mới và sạch sẽ của tôi. Nhưng có vẻ như định nghĩa của anh ta về áo khoác bị giới hạn trong “áo vét đóng bộ thông thường”.

“Chúng tôi rất vui lòng để ngài mượn một chiếc, thưa ngài. Một chiếc kiểu này.”

“Các anh cung cấp cả áo khoác à? Đủ mọi kích cỡ sao?”

Đấy là tôi không nói đến việc có sẵn áo cung cấp như vậy chính là bằng chứng cho thấy quy định của họ đã không được truyền đạt rõ ràng, và sẽ hiệu quả hơn nếu họ cải thiện vốn từ ngữ của mình hoặc bỏ quách cái quy định đó đi. Tôi cũng không nói rằng tiền mua và giặt áo khoác của họ hẳn đã được cộng thêm vào giá bữa ăn. Khách hàng của họ có biết là mình đang trợ cấp cho một nhà kho áo khoác không?

“Tôi không biết rõ về điều đó, thưa ngài”, anh ta nói. “Hãy để tôi sắp xếp cho ngài một chiếc áo khoác.”

Không cần phải nói tôi thấy bất tiện thế nào với ý tưởng mình bị “trang trí” lại như một đồ vật với loại quần áo công cộng không biết có sạch sẽ hay không. Trong một chốc, đầu óc tôi chỉ tràn ngập sự vô lý bất công của tình huống đang xảy ra. Khi phải chuẩn bị cuộc gặp gỡ thứ hai với một người phụ nữ có thể sẽ trở thành bạn đời của tôi, tôi đã căng thẳng sẵn rồi. Và giờ đến việc cái tổ chức mà tôi trả tiền để phục vụ chúng tôi một bữa ăn – cái nhà cung cấp dịch vụ  đáng ra phải làm mọi thứ có thể để khiến tôi cảm thấy thoải mái – lại đang tùy ý đặt chướng ngại vật chắn đường tôi. Chiếc áo Gore-Tex của tôi, lớp bao bọc đã bảo vệ tôi khỏi mưa gió bão tuyết, đã bị xem như một thứ trang trí bằng len đơn thuần một cách vô lý, không công bằng, không được công nhận. Tôi đã trả 1015 đô cho nó, bao gồm 120 đô thêm cho màu vàng phát quang. Tôi nói qua một số luận điểm của mình.

“Chiếc áo khoác của tôi hoàn toàn cao cấp hơn của các anh ở tất cả các tiêu chuẩn có thể: không thấm nước, nhìn thấy được trong ánh sáng yếu, khả năng cất giữ.” Tôi kéo khóa chiếc áo để lộ những chiếc túi bên trong ra và tiếp tục: “Nhanh khô, không bị dính vết thức ăn, mũ chùm…”

Người nhân viên vẫn không thể hiện biểu hiện gì rõ ràng, dù tôi đã gần như lên giọng.

“Có thể co giãn vô cùng tốt…”

Để chứng minh điểm cuối cùng này, tôi kéo lấy ve áo của người nhân viên và giữ trong tay mình. Tôi hoàn toàn không có ý định xé nó, nhưng đột nhiên có ai đó kéo tôi từ đằng sau như định ném tôi xuống đất. Tôi tự động phản ứng bằng một cú hích an toàn và ít va chạm để chống lại người đó mà không làm rơi kính của mình. Chiêu thức “ít va chạm” này áp dụng cho một người thường tập luyện các môn võ phối hợp biết cách làm thế nào để ngã. Nhưng người này thì không, và ngã xuống đất khá nặng.

Tôi quay lại nhìn anh ta  – một người to lớn và giận dữ. Để ngăn chặn bạo lực đi xa hơn, tôi buộc phải ngồi lên anh ta.

“Tránh ra khỏi tao. Tao sẽ giết mày”, anh ta nói.

Với tình trạng đó, có vẻ phi logic nếu đáp ứng yêu cầu của anh ta. Đúng lúc đó một người đàn ông khác đến và cố gắng kéo tôi ra. Cho rằng Kẻ Lưu manh Số Một này sẽ thực hiện lời đe dọa của hắn, tôi không còn lựa chọn lào khác ngoài việc vô hiệu hóa nốt Kẻ Lưu manh Số Hai. Không ai bị thương nặng, nhưng đó là một tình huống xã hội rất kì cục, khiến cho tinh thần tôi suy sụp.

May thay, Rosie đã đến.

Nhân viên Áo Khoác có vẻ ngạc nhiên, gọi: “Rosie!”

Vậy rõ ràng là anh ta biết cô. Cô nhìn anh ta rồi nhìn sang tôi và nói: “Giáo sư Tillman… Don… có chuyện gì đang xảy ra vậy?”

“Cô đến muộn”, tôi đáp. “Chúng tôi có một vấn đề ứng xử nho nhỏ.”

“Cô biết người này?”  – Áo Khoác nói với Rosie.

“Tôi đoán là tôi biết tên anh ta, anh thấy sao?” Rosie nói với vẻ hung hăng và tôi nghĩ đây có thể không phải cách tiếp cận tốt nhất. Chắc chắn là chúng tôi nên tiến thẳng đến giai đoạn xin lỗi và ra về. Tôi bỗng ước gì không phải chúng tôi đến nhà hàng ăn tối thì hay biết mấy.

Một đám đông nhỏ đã tụ tập lại và tôi nhận ra có thể một kẻ lưu manh nữa sẽ đến, nên tôi cần nghĩ ra cách giải phóng một tay mà không phải thả hai kẻ lưu manh kia ra. Trong quá trình đó, tôi khiến một người hích vào mắt người kia, và mức độ tức giận của họ tăng lên nhanh chóng. Áo Khoác thêm vào: “Anh ta đã tấn công Jason.”

[1] Ý nói loại áo lễ phục lịch sự

The Rosie Project – chap 6 part 1/3

Tên truyện: Dự án Rosie (The Rosie Project)
Tác giả: Graeme Simsion
Update mỗi thứ 2 – 6 hàng tuần
Đọc từ đầu: https://sunfollowerr.wordpress.com/2014/10/11/11102014-du-an-rosie-chuong-i-phan-1/
[Thông báo]: Vì truyện đã được xuất bản tại Việt Nam, nên mình sẽ dừng việc dịch truyện từ chương 8 (hết chương 7). Cảm ơn bạn đã theo dõi và hẹn gặp trong những truyện tiếp theo.

Chương 6 phần 1

Khoảng hai tiếng sau khi Gene rời văn phòng với toàn bộ bảng hỏi của Dự án Vợ, có một tiếng gõ cửa. Tôi đang cân những bài luận của sinh viên, một hoạt động không phải là bị cấm, nhưng tôi vẫn nghi ngờ vì đâu có ai biết tôi đang làm điều này. Đó là một phần trong dự án giảm tải công sức đánh giá của giảng viên, bằng cách tìm kiếm những thông số dễ dàng đo đếm bao gồm mục lục, hoặc trang bìa viết tay so với đánh máy, yếu tố có thể cung cấp thông tin về chất lượng không kém gì quá trình đọc chán ngắt toàn bộ luận văn.

Tôi đóng ngăn kéo dưới hộc bàn vừa lúc cánh cửa mở ra và nhìn lên thấy một người phụ nữ mà tôi không biết là ai đang đứng ở lối vào. Tôi ước chừng cô khoảng ba mươi tuổi với BMI hai mươi.

“Giáo sư Tillman?”

Một câu hỏi không mấy khôn ngoan, khi tên tôi đã lù lù ở trên cửa.

“Đúng là tôi.”

“Giáo sư Barrow giới thiệu tôi đến gặp anh.”

Tôi ngạc nhiên trước năng suất của Gene, và nhìn người phụ nữ cẩn thận hơn khi cô tiến gần đến bàn làm việc của tôi. Không có dấu hiệu nào của sự không phù hợp. Tôi không nhận ra lớp trang điểm nào. Đường nét cơ thể và màu da của cô cho thấy sự dẻo dai khỏe khoắn. Cô đeo cặp kính gọng dày khiến tôi nhớ đến kí ức tồi tệ về Cô nàng Kem Mơ, mặc một chiếc áo đen dài bị sờn đôi chỗ, một chiếc thắt lưng đen với phần dây xích kim loại. Thật may là câu hỏi về đồ trang sức đã được bỏ đi vì cô ấy đang đeo một đôi khuyên tai kim loại lớn và một chiếc dây chuyền có mặt khá đặc biệt quanh cổ.

Dù tôi thường không chú ý đến cách ăn mặc, nhưng cách ăn mặc của cô dường như không phù hợp với trông đợi của tôi về một học giả hoặc chuyên gia giỏi và không phù hợp với cả thời tiết mùa hè nữa. Tôi chỉ có thể đoán rằng cô có công ty riêng hoặc đang trong kì nghỉ, và, không chịu bó buộc bởi quy tắc công sở, đã chọn quần áo khá vô ý. Chắc là như vậy.

Được một lúc kể từ khi một trong hai chúng tôi cất lời và tôi nhận ra là đã đến lượt mình. Từ chiếc mặt dây chuyền, tôi nhìn lên và nhớ lại hướng dẫn của Gene.

“Chúng ta ăn tối tối nay nhé?”

Cô có vẻ ngạc nhiên trước câu hỏi của tôi khi trả lời: “Vâng, được thôi. Vậy chúng ta ăn tối nhé? Đến Le Gavroche và anh sẽ mời?”

“Được. Tôi sẽ đặt chỗ vào lúc 8 giờ.”

“Anh hài hước thật.”

Một câu trả lời lạ lùng. Tại sao tôi phải hài hước với người vừa mới gặp mặt chứ?

“Không. Tám giờ tối nay được chứ?”

“Để tôi nói thẳng nhé. Có phải anh đang mời tôi bữa tối ở Le Gavroche tối nay không?”

Không nói đến câu hỏi về tên tôi lúc đầu, tôi bắt đầu nghĩ rằng người phụ nữ này là thứ mà Gene sẽ gọi là “không phải cái tốt nhất trong kho”[1]. Tôi nghĩ đến chuyện rút lại lời mời, hoặc ít nhất là sử dụng kế hoãn binh nào đó cho đến khi có thể xem lại bảng hỏi của cô, nhưng không thể nghĩ ra cách cư xử nào chấp nhận được để làm điều này, nên đành xác nhận rằng cô đã giải thích đúng lời đề nghị của tôi. Cô quay người rời đi và tôi nhận ra rằng đến tên cô tôi còn không biết.

Tôi gọi ngay cho Gene. Lúc đầu cậu ta có vẻ ngạc nhiên, sau đó cười khoái chí. Có lẽ cậu ta không nghĩ tôi lại xử trí với “ứng viên” một cách “hiệu quả” như vậy.

“Tên cô ấy là Rosie”, cậu nói. “Và tôi chỉ nói cho cậu thế thôi. Chúc vui vẻ. Nhớ điều tôi dặn về sex đấy.”

Việc Gene không cung cấp thêm thông tin cho tôi thật không may, bởi một vấn đề đã phát sinh. Le Gavroche không có sẵn bàn vào thời điểm tôi chọn. Tôi đã cố gắng tìm kiếm hồ sơ của Rosie trên máy tính của mình, và lần này các bức ảnh đã có tác dụng. Người phụ nữ đến văn phòng của tôi hôm nay không giống bất cứ ứng viên nào có tên bắt đầu bằng “R”. Chắc cô ấy là một trong số những người trả lời trên giấy. Gene đã về và điện thoại thì tắt.

Tôi buộc phải đi tới một hành động không hẳn là bất hợp pháp, nhưng chắc chắn là phi đạo đức không chối vào đâu được. Tôi tự bào chữa dựa trên cái cớ rằng sẽ càng phi đạo đức hơn khi không thực hiện được lời hẹn với Rosie. Hệ thống trực tuyến của Le Gavroche có thiết lập những điều kiện thuận lợi cho khách VIP và tôi đã đặt một chỗ dưới tên Dean sau khi đăng nhập vào sử dụng phần mềm hack đơn giản.

Tôi đến nơi lúc 7 giờ 59 tối. Nhà hàng nằm trong một khách sạn lớn. Tôi xích xe đạp của mình ở phòng nghỉ, lúc đó ngoài trời đang mưa to. Thật may là trời không lạnh và chiếc áo khoác Gore-Tex[2] đã bảo vệ tôi một cách xuất sắc. Áo sơ mi của tôi bên trong thậm chí không ẩm một chút nào.

Một người đàn ông mặc đồng phục đến gần tôi. Anh ta chỉ ra chỗ chiếc xe đạp, nhưng tôi đã nói trước khi anh ta kịp phàn nàn.

“Tên tài khoản của tôi là Giáo sư Lawrence và tôi đã vào hệ thống các anh đặt chỗ lúc 5 giờ 11 phút chiều.”

Hóa ra người nhân viên không biết người tên là Dean, hoặc nghĩ rằng tôi là một Giáo sư Lawrence nào khác, vì anh ta chỉ kiểm tra màn hình một chút rồi gật đầu. Tôi khá ấn tượng với tốc độ của mình, dù giờ đã là 8 giờ 1 phút và không thấy Rosie bước vào. Có lẽ cô đã chọn B – sớm một chút và đã ngồi vào bàn rồi.

[1] “not the sharpest tool in the shed”: ý nói người không được thông minh cho lắm

[2] Công nghệ không thấm nước

The Rosie Project – chap 5 part 2/2

Tên truyện: Dự án Rosie (The Rosie Project)
Tác giả: Graeme Simsion
Update mỗi thứ 2 – 6 hàng tuần
Đọc từ đầu: https://sunfollowerr.wordpress.com/2014/10/11/11102014-du-an-rosie-chuong-i-phan-1/
[Thông báo]: Vì truyện đã được xuất bản tại Việt Nam, nên mình sẽ dừng việc dịch truyện từ chương 8 (hết chương 7). Cảm ơn bạn đã theo dõi và hẹn gặp trong những truyện tiếp theo.

Chương 5 phần 2

“Thỉnh thoảng”, cô nói.

Tôi đặt bảng hỏi sang một bên.

“Tốt rồi”. Tôi rất hài lòng vì sự sắp xếp câu hỏi của mình đang tỏ ra rất hiệu quả. Chúng tôi đã có thể tốn thời gian nói về vị kem ưa thích rồi trang điểm các thứ mãi xong mới nhận ra cô ấy hút thuốc. Không cần nói thêm nữa, hút thuốc không thể chấp nhận được. “Tôi hỏi xong rồi. Cô muốn nói về chuyện gì nào?”

Một cách thất vọng, Frances không có hứng thú nói chuyện gì thêm khi tôi đã khẳng định rằng chúng tôi không phù hợp. Thành ra xu hướng chung cho các lượt nói chuyện khác đều như vậy.

Những tiếp xúc cá nhân này, tất nhiên, chỉ là lựa chọn thứ hai. Phần lớn tôi trông đợi vào kết quả trên internet, và những bảng hỏi được trả lời bắt đầu lần lượt xuất hiện sau lần tôi đăng tải. Tôi sắp xếp một cuộc hẹn để xem chúng cùng Gene ở văn phòng tôi.

“Có bao nhiêu người trả lời?” cậu ta hỏi.

“Hai trăm bảy mươi chín.”

Gene lộ vẻ ấn tượng rõ ràng. Tôi chưa nói với cậu ta rằng chất lượng câu trả lời có rất nhiều thể loại, với số lượng không nhỏ là trả lời bừa.

“Không có ảnh à?”

Rất nhiều người đính kèm ảnh, nhưng tôi đã tạm đóng không cho hiển thị để dành chỗ cho những dữ liệu quan trọng hơn.

“Xem ảnh đi đã”, Gene nói.

Tôi mở tùy chọn xem ảnh, để Gene lướt qua một lượt, rồi bất ngờ kích chuột vào một cái. Một bức ảnh có độ phân giải rất ấn tượng. Dường như cậu ta đã đồng ý người này, nhưng chỉ nhìn qua thông tin thôi đã thấy “ứng viên” hoàn toàn không phù hợp. Tôi lấy lại chuột và xóa cô ta đi. Gene giãy nảy.

“Cái cái cái… cậu làm cái gì thế?”

“Cô ta tin vào chiêm tinh học và vi lượng đồng căn. Đã thế còn tính sai BMI nữa.”

“Tính thế nào?”

“Hai mươi ba phẩy năm.”

“Cũng được mà. Cậu khôi phục lại đi?”

“Cô ta hoàn toàn không thích hợp.”

“Thế có bao nhiêu người thích hợp?” Gene hỏi, cuối cùng cũng nói vào vấn đề chính.

“Không, zero. Bảng hỏi này đúng là chọn lọc rất tốt.”

“Cậu không nghĩ là mình đang đặt xà hơi cao quá rồi đấy chứ?”

Tôi phân tích rằng mình đang thu thập dữ liệu để phục vụ cho quyết định quan trọng nhất của cuộc đời. Vì vậy không thể thỏa hiệp được.

“Cuộc sống lúc nào chả có lúc phải thỏa hiệp”, Gene nói. Một câu khó tin hoàn toàn trái ngược với trường hợp của cậu ta.

“Cậu đã tìm được người vợ hoàn hảo. Thông minh tuyệt đỉnh, xinh đẹp rực rỡ và còn cho cậu lên giường với người phụ nữ khác nữa.”

Gene có ý bảo tôi đừng chúc mừng sự “rộng lượng” của Claudia trước mặt cô ấy, rồi yêu cầu tôi nhắc lại số lượng bảng hỏi đã được hoàn thành. Con số thực sự lớn hơn những gì tôi nói với cậu ta, đấy là chưa tính những bảng hỏi giấy mà tôi phát. Ba trăm linh tư.

“Đưa danh sách của cậu cho tôi”, Gene nói. “Tôi sẽ chọn ra một vài người cho cậu.”

“Không có ai đạt tiêu chuẩn cả. Ai cũng mắc lỗi nào đó.”

“Cứ coi như là luyện tập đi.”

Đó là một ý không tồi. Tôi đã vài lần từng nghĩ về cô nàng Olivia Nhân chủng học Ấn Độ, và cân nhắc đến việc sống với một tín đồ Hindu ăn chay thích kem vị mạnh. Chỉ nghĩ đến việc nên chờ đến khi gặp người phù hợp đích thực đã ngăn tôi liên lạc với cô ấy. Tôi thậm chí cũng từng xem lại bảng hỏi của Fabienne Nhà nghiên cứu Thiếu Sex.

Tôi gửi mail danh sách cho Gene.

“Không hút thuốc nhé.”

“Được rồi”, Gene nói, “nhưng cậu phải liên lạc đấy. Mời ăn tối. Ở một nhà hàng được được.”

Gene có thể biết tỏng tôi chả hứng thú gì với viễn cảnh đó. Nhưng cậu ta có thể khéo léo nhắm tới vấn đề bằng cách đưa ra một sự thay thế còn khó chấp nhận hơn.

“Đương nhiên lúc nào cũng có lựa chọn khác.”

“Nhà hàng đi.”

Gene cười như để xoa dịu sự khó chịu của tôi. “Dễ thôi mà. Chúng ta cùng ăn tối tối nay nhé? Nhắc lại xem nào.”

“Chúng ta cùng ăn tối tối nay nhé?” tôi nhắc lại.

“Thấy chưa, có khó đâu. Miễn là đừng nói gì tiêu cực về vẻ ngoài của họ. Trả tiền bữa tối. Đừng nhắc đến sex.” Gene đi ra đến cửa, chợt quay lại. “Còn bảng hỏi giấy đâu?”

Tôi đưa cậu ta các bảng hỏi từ Chiếc bàn Tám người, tiệc độc thân, và sau khi cậu ta nhất quyết, tôi đưa cả cái bảng hỏi mới được hoàn thành một phần trong sự kiện hẹn hò tốc độ. Giờ thì chẳng còn gì trong tay rồi.